Bài học gì từ một vụ tranh chấp quyền tác giả sách?

Những ngày này, vụ quyển Phê bình nhân tâm học:Phía của những ám ảnh nghệ thuật của TS. Vũ Thị Trang ở Viện Văn học bị tố vi phạm quyền tác giả đang làm giới học thuật xôn xao, nhất là vì quyển sách này vừa nhận được Giải thưởng Tác giả trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam, được Hội đồng Lý luận phê bình văn nghệ thuật Trung ương tặng thưởng.

Phê bình nhân tâm học - Phía của những ám ảnh nghệ thuật

Trong nội dung phần III quyển sách dày 415 trang này, TS, Đỗ Hải Ninh (Trưởng phòng Văn học Việt Nam đương đại, Viện Văn học) cho rằng bà Trang có sử dụng nhiều phần viết của mình, mà không hề có chú thích nào về tên tác giả.

Tác giả Vũ Thị Trang cho biết bà Đỗ Hải Ninh là một trong nhiều người khác cùng với bà tham gia vào đề tài cấp bộ Tiểu thuyết và tự truyện Việt Nam sau 1986 nhìn từ phê bình phân tâm học do bà làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2019 tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, bà Trang tuyên bố rằng, phần nội dung của đề tài nghiên cứu cấp bộ mà bà sử dụng cho quyền Phê bình nhân tâm học: Phía của những ám ảnh nghệ thuật đã có từ trước khi bà Ninh tham gia đề tài. Và dù sao, trước khi xuất bản sách, bà có xin phép bà Ninh và ba người còn lại, qua ... điện thoại.

Để xác định ai là tác giả của nội dung gây tranh chấp kia, hai bên cần đưa ra những bằng chứng cụ thể chứng minh quyền tác giả của mình.

Trong lĩnh vực luật bản quyền, không bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả ở một cơ quan nhà nước để được công nhận quyền này, vì nguyên tắc căn bản của luật là bảo vệ tự động quyền tác giả khi tác phẩm ra đời, ngược với quyền sở hữu trí tuệ công nghiệp (bằng sáng chế, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý...) phải đăng ký mới được bảo hộ.

Tuy nhiên, nếu thấy có nguy cơ tranh chấp, các tác giả nên đăng ký bảo hộ quyền tác giả, vì đây là bằng chứng có giá trị nhất chứng mình quyền tác giả của bản thân (Hiện nay, phần lớn các quốc gia đều theo nguyên tắc không cần đăng ký bản quyền, nhưng một số quốc gia như Mỹ, Ấn Độ, đăng ký bản quyền là điều kiện để khiếu kiện trước tòa khi có tranh chấp xảy ra).. Trong trường hợp không có đăng ký quyền tác giả, mỗi bằng chứng khác đều có thể được sử dụng trong tranh chấp, như thư từ trao đổi, bài đăng báo, báo cáo kết quả công việc... Có thể nói, lưu trữ bằng chứng là một trong những điều quan trọng mà tác giả phải lưu ý khi sáng tác, xin bổ sung rằng việc lưu trữ bằng chứng nghiên cứu sáng tạo nhờ vào sổ theo dỏi công việc là hoạt động đặc biệt phổ biến ở các cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm công cũng như tư, nhằm hạn chế những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) sau này.

Tất nhiên, trong lĩnh vực quyền tác giả, chỉ có tác phẩm mang tính “sáng tạo” (originality) mới được bảo hộ. Khi phải xác định tính sáng tạo, tòa án thường dựa trên cơ sở khách quan: tác phẩm là do bản thân tác giả tạo ra, không sao chép tác phẩm của người nào khác. Điều này có nghĩa là trong vụ tranh chấp giữa tác giả Vũ Thị Trang và bà Đỗ Hải Ninh, nếu như phần nội mà hai bên đang tranh cãi quyền tac giả không mang tính sáng tạo và lại sao chép của người khác, thì hiễn nhiên không có quyền tác giả nào của bà Đỗ Hải Ninh bị vi phạm cả. Ngược lại, nếu như tác giả Vũ Thị Trang sử dụng phần nghiên cứu mang tính sáng tạo của bà Đỗ Hải Ninh mà không xin phép, thì rõ ràng bà đã xâm phạm quyền tác giả của bà Đỗ Hải Ninh.

Vụ tố vi phạm bản quyền này lại một lần nữa cho thấy tầm quan trọng của việc giao kết hợp đồng bằng văn bản khi chuyển nhượng bàn quyền. Nhiều vụ tranh chấp xảy ra trước đây như vụ họa sĩ Lê Linh với bà Phan Thị Mỹ Hạnh, giám đốc Công ty Phan Thị, đối với nhân vật Tí, Sửu, Dần, Mẹo trong tác phẩm Thần đồng đất Việt, hay như của gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp với gia đình nhà văn Hữu Mai liên quan đến bộ hồi ký của đại tướng. Khi không có hợp đồng rõ ràng cụ thể, tranh chấp dễ xảy ra hơn, và thường là bất lợi cho chính tác giả, đặc biệt là khi tác giả không lưu trữ bằng chứng sáng tạo của bản thân. Có những trường hợp tác giả “mất trắng” hoàn toàn quyền sở hữu trí tuệ của bản thân, vì tin tưởng mà không giao kết hợp đồng cụ thể với đối tác.

Trong trường hợp tranh chấp bản quyền nội dung quyển Phê bình nhân tâm học: Phía của những ám ảnh nghệ thuật nói trên, nếu như phần nội dung tranh chấp thật sự thuộc về bà Đỗ Hải Ninh, thì có thể nghĩ đến vài tình huống sau:

Thứ nhất, hai bên có thể ký kết hợp đồng “đồng sáng tạo” (quy định ở điều 38 của Luật SHTT), theo đó hai bên đều là “đồng tác giả”. Vì phần sáng tạo của đồng tác giả có thể tách ra riêng biệt, nên mỗi bên đều có thể có quyền tài sản và quyền nhân thân đối với phần sáng tác của riêng mình.

Thứ hai, hợp đồng giữa hai bên có thể là hợp đồng dạng “work made for hire” (hợp đồng sáng tạo tác phẩm theo đơn đặt hàng, quy định ở điều 39 của Luật SHTT).. Theo quy định của pháp luật, thì người giao kết hợp đồng với tác giả sẽ được hưởng mọi quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm.

Thứ ba, tác giả Vũ Thị Trang có thể ký hợp đồng với bà Đỗ Hải Ninh để được nhượng quyền sử dụng tác phầm của bà Ninh, một cách độc quyền hoặc không độc quyền (điều 41 của Luật SHTT).

Tất nhiện, trong mọi trường hợp, quyền của bà Ninh được đứng tên trên tác phâm của bản thân là không thể bị xâm phạm, cũng như không thể được chuyển nhượng.

Bài học rút ra từ vụ tranh chấp nói trên đối với các tác giả chính là phải biết áp dụng các biện pháp phù hợp để bảo vệ quyền tác giả. Trong mọi trường hợp, đăng ký quyền tác giả hay giao kết hợp đồng bằng văn bản khi khai thác tác phẩm là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để đảmbảo quyền lợi của bản thân.

Thiên Hương/KTSG

(1) Quyết định của tòa án tối cao Mỹ “Fourth Estate Public Benefit Corp,v.Wall-Street.com LLC et al,”

(2) Theo điều 3(7) của Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạotrong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”.



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng