Chiến lược và công nghệ chuyển đổi số trong giáo dục

Chìa khoá thành công cho chuyển đổi số trong giáo dục là giải đúng bài toán chiến lược và công nghệ. Một cách tiếp cận nhanh cho chuyển đổi số giáo dục là lựa chọn công nghệ và giải pháp trước từ đó xây dựng các dịch vụ sau. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không cho tổ chức giáo dục có được chiến lược chuyển đổi số dài hạn. Chiến lược dài hạn cần tập trung vào lộ trình giá trị mang tới cho người học từ người dạy và hệ thống đào tạo. Dựa vào những giá trị đó, các tổ chức giáo dục sẽ có nhiều chiến lược và lựa chọn công nghệ tương ứng với bối cảnh và nguồn lực của mình.

Chuyen doi so trong giao duc

Cấp độ một: Tự động

Cốt lõi của cấp độ này hướng tới sử dụng các công cụ dựa vào công nghệ thay thế hoàn toàn các quá trình giảng dạy trực tiếp giảng viên tới người học, ví dụ ghi hình bài giảng và sau đó chia sẽ tới học viên. Lợi thế của hình thức dạy học này là giúp cho người học có truy cập bài giảng mọi lúc mọi nơi. Ngoài ra, ứng dụng chatbot – trả lời tự động có thể hỗ trợ người học. Nhà trường có thể sử dụng một hệ thống quản lý quan hệ khách hàng CRM giúp cho người học đặt các câu hỏi và sau đó hệ thống sẽ tổng hợp lại các câu hỏi nào nhiều nhất. Từ đó nhà trường sẽ thực hiện các hoạt động đào tạo bổ sung.

Hướng thứ hai là tự động hoá toàn bộ trải nghiệm học tập của học viên trên hệ thống quản lý học tập trực tuyến LMS như Moodle, Canvas … Toàn bộ bài giảng cùng các hoạt động dạy-học sẽ được số hoá và tích hợp trên nền tảng chung. Người học có thể truy cập bài giảng, thảo luận, nộp bài tập trong quá trình học tập của mình cũng như toàn bộ học viên trong khoá học. Giá trị của nền tảng bài giảng trực tuyến là cho phép tương tác và trao đổi giữa học viên không hạn chế.

Cấp độ 2: Tương tác

Tại cấp độ này, chiến lược và công nghệ giáo dục hướng tới gia tăng hiệu quả của quá trình tương tác giảng dạy. Trước đây, kết quả học tập của học viên thể hiện sau khi làm bài kiểm tra qua hoạt động đánh giá quá trình và đánh giá kết quả. Cả giảng viên và học viên đều khó có khả năng thực hiện các hiệu chỉnh ngay lập tức khi quá trình giảng dạy và học tập chưa đạt hiệu quả. Hiện nay, thông qua công nghệ như sử dụng trí thông minh nhân tạo (AI) và nhận dạng giọng nói, hình ảnh….để đánh giá quá trình giảng dạy và học tập theo thời gian thực. Ví dụ, có thể sử dụng phần mềm theo dõi quá trình học tập và tương tác giữa học viên với các bài tập trên nền tảng trực tuyến. Một học viên có khó khăn trong một nội dung giảng dạy thường có những hành vi có thể thống kê được khi học viên sử dụng hệ thống LMS:1. Thời gian học lâu hơn; 2, Đọc kỹ hơn các giải thích bình luận của các bạn; 3. Tìm kiếm và truy cập các link liên quan; 4. Tương tác với các bạn khác và đặt các câu hỏi về nội dung trên mục thảo luận của từng modul bài giảng…Thông qua hệ thống tự động theo giỏi, các thuận toán tự động ở cấp độ một có thể thông báo tới giảng viên để có các hướng hỗ trợ phù hợp.

Một ví dụ cụ thể là công nghệ dạy học tương tác cho các học viên học ngoại ngữ khi tập nhớ từ vựng. Thông qua đo lường tốc độ viết chữ theo mẫu trên màn hình cảm ứng. hệ thống theo dõi sẽ thống kê chi tiết những chữ cái nào, cấu trúc từ nào các học viên gặp khó khăn hoặc viết sai để từ đó người dạy hướng dẫn chi tiết cho từng học viên.

Đối với người dạy, công nghệ tương tác hoá mang lại giá trị rất lớn, đó là khả năng đo lường hiệu quả giảng dạy thời gian thực trong lớp. Nếu cơ chế và điều kiện vật chất cho phép, có thể cài đặt hệ thống camera thông mình trong lớp học ghi lại gương mặt, cử chỉ của toàn bộ học viên. Thông qua phân tích hình ảnh, giọng nói và cử chỉ, hệ thống có thể đánh giá mức độ tập trung và tỉnh táo của sinh viên từ đó đưa ra các chỉ số giúp giảng viên điều chỉnh tính hấp dẫn của bài giảng. Giá trị chiến lược của công nghệ tương tác hoá là đo lường và hiệu chỉnh hiệu năng cá thể hoá tời từng giáo viên và người học. Từ đó quá trình giảng dạy và học tập gia tăng hiệu quả.

Cấp độ 3: Phân tích và dự báo

Ở cấp độ 3, chuyển đổi số giáo dục tập trung vào phân tích các dữ liệu có được từ hai cấp độ nói trên để đưa ra các khuyến nghị cải tiến hệ thống. Ví dụ, một trường cấp ba thông qua phân tích dữ liệu của tất cả học sinh lớp 12 trên hệ thống quản lý học tập trực tuyến, nhà trường có thể ra các quyết định tập trung ôn tập những phần nào trong môn học nào mà học sinh gặp khó khăn để có được kết quả tốt trong kỳ thi tốt nghiệp THPT. Nếu phạm vi dữ liệu càng mở rộng quy mô tới tỉnh, vùng hay cả nước thì giá trị dự báo mang lại càng hiệu quả.

Các dự báo cũng có thể tạo ra giá trị nhiều hơn khi nghiên cứu và phân tích dữ liệu quá khứ của học viên để từ đó khuyến nghị chương trình học tập tối ưu theo từng chủ đề và thời gian học. Tại cấp độ này, với công nghệ sử dụng dữ liệu lớn, trí thông minh nhân tạo giúp cho mỗi học viên có được các chương trình đào tạo trong tương lai căn cứ vào so sánh bản thân với cộng đồng và với chính những dữ liệu học tập của bản thân trong quá khứ.

Thông qua kết quả dự báo, nhà trường và giáo viên cá thể hoá sâu sắc chương trình học tập của từng học sinh.

Cấp độ 4: Nhân bản

Nếu như tại cấp độ ba, các công nghệ giúp cho người học cá thể hoá nội dung học tập của mình thì tại cấp độ 4, công nghệ giúp nhân bản hoá giảng viên trên không gian ảo để từ đó tối ưu năng lực hiện có của giảng viên và các năng lực khác từ công nghệ. Một cách ngắn gọn, mỗi giảng viên đều có những điểm mạnh và điểm yếu trong qua trình giảng dạy. Thông qua các công nghệ nhận dạng hình ảnh và giọng nói được sử dụng tại cấp độ 3, đặc điểm hoạt động giảng dạy của giáo viên sẽ được phân tích và từ đó đưa ra các khuyến nghị cải tiến phương pháp giảng dạy, giúp đạt hiệu quả cao hơn.

Cấp độ 4 càng có cơ hội xảy ra trong tương lai gần khi công nghệ cho phép dựng lại và hoàn thiện hơn hình mẫu giảng viên số dựa trên giảng viên thực. Các giảng viên có thể cập nhật các video đào tạo của mình và sau đó công nghệ sẽ tự động chỉnh sửa phiên bản số của giảng viên dựa trên các video có sẵn và dữ liệu số của các giảng viên khác dạy cùng một lĩnh vực để tạo ra một giảng viên số hiệu quả.

Trong tương lai không xa, giảng viên có thể tự động nạp các bài giảng trình chiếu, thư viện video có sẵn của mình và phần mềm sẽ tự động dựng ra bài giảng dụa trên các nội dung gốc đưa vào. Nội dung gốc càng chính xác, càng nhiều, càng đa dạng thì phiên bản số của giảng viên càng sinh động giống như phiên bản thật ngoài đời.

Chiến lược và công nghệ số tại cấp độ cao nhất sẽ hướng tới số hoá người giảng viên nhằm tự động hoá việc giảng dạy nhưng vẫn đàm bảo chất lượng tương tác và cảm xúc như giảng viên thật trên lớp. Các đề cập trên đã được hiện thực hoá phần nào trong dự án “Người nhân tạo” của Công ty Educommerce – đối tác công nghệ uỷ quyền của Công ty Uneeq New Zealand ngay tại Việt Nam. “Người nhân tạo” là mô hình ba chiều do máy tính tạo ra, có ngoại hình giống con người hoặc hình dạng tương tự các nhân vật hư cấu. Dựa trên các công nghệ như trí thông minh nhân tạo, dữ liệu lớn, học máy, xử lý hình ảnh và âm thanh …. Các phiên bản “Người nhân tạo” ngày càng giống con người và thực hiện các hoạt động đòi hỏi tư duy nhận thức như giảng viên.

Chuyển đổi số trong giáo dục sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ dựa trên các công nghệ chính: 1. Nhận dạnh hình ảnh và giọng nói; 2. Dữ liệu lớn; 3. Trí thông minh nhân tạo; 4. Tái tại hình và hoạt động 3D; 5. Đám mây; 6. Mạng viễn thông tốc độ cao. Các công nghệ này được kết hợp vá sử dụng chung với các hạ tầng phần cứng để thực hiện bốn cấp độ nói trên nhằm gia tăng trãi nghiệm dạy và học.

Lựa chọn và sử dụng công nghệ nào phải định hướng tới giá trị mang lại chi người học và giảng viên trên cả nền tảng đào tạo số và truyền thống. Thấu hiểu nguyên tắc này, các tổ chức giáo dục có thể triển khai nhất quán các chương trình chuyển đổi số giáo dục trong hiện tại và tương lai. Công nghệ thay đổi liên tục nhưng mong ước, khát vọng của người học luôn là bất biến, sẽ là kim chỉ nam giúp cho chuyển đổi số giáo dục thành công./.

Như Quỳnh/KTSG



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng