BIẾN ĐỘNG MỘT VÀI LOẠI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN 2015

1. Đất trồng cây lâu năm

Đến năm 2015, cả nước có 3.926,68 nghìn ha (chiếm 62,38% diện tích đất nông nghiệp còn lại), tăng 238,20 nghìn ha so với năm 2010 (bình quân mỗi năm tăng khoảng 47,63 nghìn ha). Diện tích cây lâu năm tập trung chủ yếu tại vùng Tây Nguyên 1.149,82 nghìn ha, Đông Nam Bộ 1.031,83 nghìn ha, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 668,00 nghìn ha, Đồng bằng sông Cửu Long 551,71 nghìn ha. Diện tích đất trồng cây lâu năm tăng do một số địa phương đã chuyển một phần đất trồng cây hàng năm kém hiệu quả, đất rừng sản xuất và khai thác đất chưa sử dụng sang trồng cây lâu năm trong quá trình thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả.

Trong đất trồng cây lâu năm có:

- Đất trồng cây công nghiệp lâu năm có 2.466,45 nghìn ha, tập trung ở các vùng Tây Nguyên 1.121,81 nghìn ha, Đông Nam Bộ 862,66 nghìn ha, Trung du và miền núi phía Bắc 165,22 nghìn ha... Trong đất trồng cây công nghiệp lâu năm diện tích đất trồng cây cao su là 956 nghìn ha, cà phê 635 nghìn ha, điều 311 nghìn ha, chè 128 nghìn ha, Hồ tiêu 68 nghìn ha,...

Năng suất và sản lượng các loại cây công nghiệp lâu năm chủ lực như: cao su, cà phê, tiêu,... đều tăng so với năm 2010, đưa nước ta trở thành một trong những nước có mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn trên thế giới. Tuy nhiên, việc phát triển các loại cây này đã và đang tiếp tục làm giảm diện tích rừng, đặc biệt ở vùng Tây Nguyên.

- Đất trồng cây ăn quả có 542,15 nghìn ha, tập trung ở các vùng: Đồng bằng sông Cửu Long 236,65 nghìn ha, Trung du và miền núi phía Bắc 126,92 nghìn ha, Đông Nam Bộ 70,26 nghìn ha. Trong đất trồng cây ăn quả diện tích đất trồng xoài 85 nghìn ha, cây vải 70 nghìn ha, nhãn 78 nghìn ha, cam - quýt 70 nghìn ha, chôm chôm 25 nghìn ha...

Ngoài ra, cả nước còn 918,08 nghìn ha đất trồng cây lâu năm khác.

2. Đất trồng cây hàng năm còn lại

Có 2.348,03 nghìn ha, tăng 30,60 nghìn ha so với năm 2010 và chiếm 37,30% diện tích các loại đất nông nghiệp còn lại. Đây là diện tích chuyên trồng các loại rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày,... tập trung ở các vùng: Tây Nguyên 712,20 nghìn ha, Trung du và miền núi phía Bắc 694,51 nghìn ha, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 614,16 nghìn ha,...

3. Đất nuôi trồng thuỷ sản

Có 749,11 nghìn ha, chiếm 2,80% diện tích nhóm đất nông nghiệp, đạt 99,88% chỉ tiêu Quốc hội duyệt (749,99 nghìn ha). Trong đó:

- Đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn có 460,11 nghìn ha, chiếm 61,42%;

- Đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt có 289 nghìn ha, chiếm 38,58%.

Bieu-do-xu-huong-bien-dong-dat-NTTS-2010-2015

Biểu đồ: Xu hướng biến động đất nuôi trồng thủy sản theo vùng thời kỳ 2011 - 2015

Diện tích đất nuôi trồng thủy sản tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long 508,58 nghìn ha (chiếm 67,89%), Đồng bằng sông Hồng 107,45 nghìn ha (chiếm 14,34%). So với năm 2010, đất nuôi trồng thủy sản tăng 59,28 nghìn ha (bình quân tăng 11,86 nghìn ha/năm). Nguyên nhân tăng chủ yếu do chuyển từ đất trồng lúa bị nhiễm mặn, tập trung tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Cà Mau 41,34 nghìn ha).

Ngoài ra, theo thống kê cả nước còn có khoảng trên 312 nghìn ha đất nuôi trồng thủy sản biển ngoài diện tích nội địa, trong đó nuôi cá khoảng trên 1,8 nghìn, nuôi tôm khoảng 283 nghìn, còn lại là nuôi trồng thủy sản hỗn hợp.

Diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng góp phần nâng sản lượng nuôi trồng thủy sản từ 2,73 triệu tấn năm 2010 lên 3,41 triệu tấn năm 2014, đáp ứng đủ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thủy sản lớn trên thế giới.

Tuy nhiên, việc chuyển một số lớn diện tích đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản nước mặn ở một số địa phương còn thiếu cân nhắc đến lợi ích chung toàn vùng, đã có những ảnh hưởng không tốt đến ngành trồng trọt, nhất là trồng lúa; diện tích nuôi trồng thủy sản còn phát triển theo phong trào; công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch còn hạn chế; tư duy sản xuất nhỏ, thiếu định hướng, tầm nhìn, thiếu chính sách cụ thể sử dụng đất, mặt nước lâu dài, ổn định, thiếu vốn đầu tư...; cơ sở hạ tầng thủy lợi vùng nuôi còn nhiều bất cập, hầu hết hiện nay hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản sử dụng chung, cùng hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, vì vậy nguy cơ về ô nhiễm nguồn nước và dịch bệnh từ việc dùng các loại hóa chất, thuốc trừ sâu, phân bón trong nông nghiệp thải ra nguồn nước.

Hữu Đang

( Nguồn: Điều chỉnh quy hoạch sử

dụng đất đến 2020Bộ TN và MT)



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng