Chính sách phát triển kinh tế xanh và bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Kinh tế xanh và bảo vệ môi trường là hai phạm trù chứa đựng những nội hàm khác nhau, nhưng đang có xu hướng tiến gần nhau trong một phạm trù phổ biến đã được dùng trong mọi lĩnh vực là “Phát triển bền vững”. Từ Hội nghị thượng đỉnh về môi trường toàn cầu, Rio de Zanero 1992 ở Brazin về “Môi trường và Phát triển” đã khởi xướng “Chương trình nghị sự 21” về “Phát triển bền vững”, kể từ đó đến nay thế giới đã luôn nỗ lực để thực hiện chương trình này. Mỗi quốc gia tùy theo hiện trạng phát triển và hoàn cảnh thực tế của nước mình đã xây dựng chương trình nghị sự riêng phù hợp với xu thế chung của toàn cầu. Ở Việt Nam sau 12 năm (2004) chúng ta đã ban hành chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam về “Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” tại quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, trong đó những vấn đề liên quan đến kinh tế xanh và bảo vệ môi trường cũng đã được thể hiện. Tuy nhiên, nhìn nhận toàn diện và đầy đủ hơn về “Kinh tế xanh” và “bảo vệ môi trường”, Việt Nam cần phải có những Chính sách sát thực và phù hợp hơn theo xu hướng mới của thế giới đó là hướng tới nền kinh tế xanh.

bao-ve-moi-truong-2

Chính sách phát triển kinh tế xanh và bảo vệ môi trường ở Việt Nam

I. Những chính sách kinh tế xanh và bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Phạm trù “Kinh tế xanh” mới xuất hiện ở Việt Nam từ năm 2010, kể từ sau Hội Nghị của chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) tại Nairobi, Kenya, chuẩn bị cho Hội Nghị thượng đỉnh RiO+20 tháng 06/2012 ở Rio de Zanero, Brazin về “Phát triển bền vững”. Tuy nhiên những chính sách “bảo vệ môi trường” ở Việt Nam đã hình thành từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, cụ thể luật bảo vệ môi trường đã ra đời từ cuối năm 1993, kể từ khi ra đời đến nay chúng ta đã có nhiều nỗ lực nhằm ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái môi trường và duy trì hệ sinh thái do phát triển kinh tế gây ra. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung năm 2005 và hiện nay đang tiếp tục bổ sung, sửa đổi hoàn thiện trong năm 2014.
Bên cạnh luật bảo vệ môi trường, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn có các luật, pháp lệnh bảo vệ các thành phần môi trường. Tính đến nay có trên 33 luật và hơn 22 pháp lệnh có nội dung liên quan đến công tác bảo vệ môi trường như luật đa dạng sinh học 2008, luật bảo vệ và phát triển rừng 2004; luật đất đai sử đổi 2013, luật thủy sản 2003, luật tài nguyên nước sửa đổi 2012, luật khoáng sản 2010.... 
Về cơ bản chính sách bảo vệ môi trường, các văn bản pháp luật đã tương đối đầy đủ và đã được thực thi rộng rãi, đi vào chiều sâu, có sự kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế-xã hội.
Cùng với thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường, Đảng ta cũng đã ban hành các chỉ thị và Nghị quyết nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, đó là chỉ thị 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp đó là Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về “bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

bao-ve-moi-truong-1 1

Mới đây, trong bối cảnh chung của toàn cầu đang nỗ lực giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, cùng với đó là tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/06/2013 về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”,  trong đó nhiệm vụ trọng tâm đã khẳng định “Thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát triển bền vững”, đối với nội dung bảo vệ môi trường, Nghị quyết cũng đã khẳng định “Phát triển ngành kinh tế môi trường trên cơ sở ngành công nghiệp môi trường, dịch vụ bảo vệ môi trường và tái chế chất thải. Đẩy mạnh xã hội hóa bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, sản xuất và tiêu dùng bền vững”. Như vậy trong Nghị quyết cũng đã khẳng định sự gắn kết chặt chẽ bảo vệ môi trường với kinh tế.
Về chiến lược bảo vệ môi trường, tính đến nay, chúng ta đã có “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001-2010”, tiếp đó là “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, và mới đây là chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tại Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/09/2012. Những chiến lược này phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đã được xây dựng cho mỗi thời kỳ của quốc gia.
Đối với chính sách phát triển “kinh tế xanh” chúng ta chưa có một văn bản chính thức nào, nhưng nội hàm của nó liên quan đến kinh tế xanh như “Kinh tế Cac bon thấp”, “Giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu”, “tăng trưởng xanh”, “công nghệ xanh”, “việc làm xanh”..., chúng ta đã triển khai và đang quá trình hoàn thiện. Chúng ta cũng đã nhìn nhận ra xu hướng phát triển mới, không thể duy trì kiểu phát triển cũ dạng “kinh tế nâu”, chỉ chú trọng nhiều tới tăng trưởng kinh tế mà giảm nhẹ bảo vệ môi trường.
Chính vì vậy đáng chú ý ngoài những chủ trương thể hiện trong Nghị quyết 24-NQ/TW về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, sự triển khai kịp thời của Chính phủ về Chiến lược tăng trưởng xanh, theo quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25tháng  9 năm 2012. Trước đó Chính phủ đã ban hành quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012 về “phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020”, liên quan đến tăng trưởng xanh,  đã đưa ra chỉ tiêu giám sát PTBV, trong số các chỉ tiêu tổng hợp có chỉ tiêu GDP xanh.
Từ những chính sách liên quan đến kinh tế xanh và bảo vệ môi trường cho thấy, chúng ta đang quá trình tìm tòi và hoàn thiện dần sự kết hợp hài hòa giữa hai phạm trù “Kinh tế xanh” và “bảo vệ môi trường”, rõ ràng hai phạm trù này có môi liên hệ chặt chẽ với nhau và bổ sung cho nhau để hướng tới và thực hiện thành công “phát triển bền vững”.
II. Đề xuất hướng tiếp cận nền “Kinh tế xanh” ở Việt nam.
2.1. Về cơ hội
- Thứ nhất,hiện nay sự quan tâm lớn nhất của cộng đồng thế giới là “Biến đổi khí hậu”. Nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, các quốc gia đang có nhiều nỗ lực, trong đó phát triển kinh tế “Cac bon thấp”, “tăng trưởng xanh” đang là những xu hướng mới trong lộ trình tiến tới “Nền kinh tế xanh”. Việt nam sẽ đón nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới trong nỗ lực chung giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở hướng tới “Nền kinh tế xanh”.
- Thứ hai,Việt nam đang có những thay đổi cơ bản sau 28 năm “Đổi mới và mở cửa”, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một sự phát triển vì con người, những yếu tố đó được thực hiện trong một môi trường chính trị ổn định là cơ hội tốt cho triển khai thực hiện “Nền kinh tế xanh”.
- Thứ ba,tiếp tục triển khai, thực hiện chiến lược  phát triển Kinh tế-Xã hội giai đoạn 2011-2015 . Từ Hội nghị lần thứ 3 BCHTW Đảng Cộng Sản Việt nam đã khẳng định: đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Như vậy Việt nam sẽ đẩy mạnh “Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng” là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Đây là cơ hội để Việt Nam hướng tới “Nền Kinh tế xanh” và “Tăng trưởng xanh”.
- Thứ tư,Kinh tế Việt nam liên tục tăng trưởng trong những năm vừa qua tạo ra nội lực bên trong cho một xu thế phát triển mới. Những vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên trong thời gian qua đã thức tỉnh các cấp lãnh đạo và người dân ủng hộ hướng phát triển mới “nền kinh tế xanh” tạo đà cho sự đồng thuận cao của xã hội loại bỏ hiểu phát triển “nền kinh tế nâu”.
- Thứ năm,Việt nam có một tiềm lực con người được thế giới đánh giá cao, những tố chất của người Việt như: thông minh, nắm bắt vấn đề nhanh, chịu khó học hỏi và linh hoạt trong triển khai thực hiện, cở mở và dễ hòa đồng.
- Thứ sáu,với lợi thế nằm trong khu vực nhiệt đới, gió mùa Đông Nam Á, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào, năng lượng gió phong phú, sinh vật tăng trưởng nhanh là cơ hội cho Việt nam tham gia vào các chương trình mục tiêu thiên niên kỷ để hướng tới “Nền kinh tế xanh” và thực hiện thành công Chiến lược “Tăng trưởng xanh” đang quá trình hoàn thiện.
2.2. Thách thức
Bên cạnh những cơ hội như đã nêu ở trên, thực hiện “Nền kinh tế xanh”, Việt Nam sẽ gặp phải những thách thức đòi hỏi phải vượt qua như sau:
Trước hết, về nhận thức, hiểu thế nào là một nền “kinh tế xanh” hiện nay ở Việt nam vẫn còn hết sức mới mẻ, đòi hỏi phải có những nghiên cứu và phổ biến rộng rãi kiến thức trong tầng lớp lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và người dân. Nếu không nhận thức đầy đủ, tính đồng thuận trong xã hội sẽ không đạt được, do vậy sẽ khó thực hiện.
- Thứ hai,về cách thức tiến hành, so với nền kinh tế truyền thống, “nền kinh tế nâu”, xây dựng mô hình mới “Nền kinh tế xanh”, thay đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế có sự khác biệt như thế nào và bắt đầu từ đâu trong bối cảnh phát triển kinh tế Việt nam hiện nay là vấn đề lớn đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách để xây dựng lộ trình.
- Thứ ba,nền kinh tế xanh gắn với sử dụng năng lượng tái tạo, xây dựng xã hội Cac bon thấp, tăng trưởng xanh, đầu tư khôi phục hệ sinh thái, giải quyết sinh kế gắn với phục hồi môi trường…. Thực tế công nghệ sản xuất ở Việt nam hiện nay so với thế giới phần lớn là công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng lớn, việc thay đổi công nghệ mới phù hợp với nền kinh tế xanh là thách thức không nhỏ nếu không có trợ giúp về vốn và công nghệ của các nước có công nghệ cao trên thế giới.
- Thứ tư,với hơn 70% dân số sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp là chính, nhiều vùng nông thôn và khu vực miền núi, sinh kế người dân còn gặp nhiều khó khăn. Phát triển “kinh tế xanh” phải gắn với xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội, đây là thách thức không nhỏ.
- Thứ năm,về huy động nguồn vốn cho thực hiện mục tiêu “xây dựng nền kinh xanh”, mặc dù Việt nam đã thoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích luỹ quốc gia so với các nước đã phát triển còn quá thấp, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình triển khai hướng tơi “Nền kinh tế xanh”.
Thứ sáu, Cơ chế chính sách hướng tới thực hiện “Nền kinh tế xanh” ở Việt nam hiện nay gần như chưa có, trong khi trên thế giới cũng mới đề xuất hướng tiếp cận này. Việc rà soát lại cơ chế chính sách liên quan và sửa đổi bổ sung cho phù hợp với mô hình phát triển mới theo hướng cơ cấu lại ngành kinh tế và hướng tới nền “kinh tế xanh” là thách thức không nhỏ.
2.3. Định hướng thực hiện nền kinh tế xanh ở Việt Nam
Với vị trí Địa lý nằm trong vành đai chí tuyến Bắc và cận xích đạo, Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, diện tích biển hơn ba lần diện tích lục địa, có hải giới và địa giới gần bằng nhau. Đặc trưng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa Đông Nam Á, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn vốn tự nhiên đa dạng và dồi dào, nhất là nguồn vốn tự nhiên có khả năng tái tạo, theo ước tính của TS.Patrica-Đại học Copenhagen, Đan Mạch ở Việt Nam “lượng tài sản thiên nhiên có khoảng 36% là đất nông nghiệp, 38% là khoáng sản và các phần khác là 26%”. Tác giả cũng đánh giá  lợi thế về tài nguyên thiên nhiên Việt Nam có “9 triệu hec ta đất nông nghiệp thuộc loại tốt hàng đầu của thế giới, vùng đất đồi núi bao la, bờ biển dài 3.200 km cùng hàng ngàn, hàng triệu hecta diện tích mặt nước sông ngòi tạo thành nguồn lực “trời cho” hiếm có so với nhiều nước trên thế giới”. Tuy nhiên thực tiễn phát triển trên thế giới cũng đã cho thấy, thường các nước giàu có về vốn tự nhiên dễ rơi vào bẫy “Lời nguyền tài nguyên” và sự “để ý” của các quốc gia mạnh hơn dẫn đến tình trạng phát triển “tụt hậu” so với các quốc gia không có thế mạnh về nguồn vốn này.
Hướng tới nền kinh tế xanh, nếu chúng ta biết phát huy lợi thế nguồn vốn tự nhiên, khắc phục những tồn tại hạn chế của các nước trên thế giới đã gặp phải, không chỉ sẽ đạt mục tiêu phát triển bền vừng từ thực hiện nền kinh tế xanh mà còn rút ngắn khoảng cách phát triển, tạo ra thế ổn định về mặt chính trị, góp phần xóa đói giảm nghèo. Như vậy Việt Nam cần có những định hướng cơ bản sau đây:
-  Thứ nhất,về cơ chế chính sách, trên cơ sở cương lĩnh định hướng Chiến lược phát triển kinh tế-xã Việt nam giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn 2020, Việt nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Cơ chế chính sách cần tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới mô hình tăng trưởng, trọng tâm là cơ cấu lại ngành nghề, ưu tiên phát triển các ngành có công nghệ cao, phát thải cac bon thấp; Công nghệ thân thiện môi trường; Sử dụng tiết kiệm năng lượng và tài nguyên;  Không gây ô nhiễm môi trường; Phục hồi tài nguyên và hệ sinh thái.
- Thứ hai,về nhận thức, tập trung tuyên truyền, giáo dục định hướng thay đổi nhận thức trước đây của xã hội từ nền “Kinh tế nâu” sang nền “Kinh tế xanh” để tạo ra một sự đồng thuận cao trong xã hội từ lãnh đạo đến người dân và doanh nghiệp, từ đó thay đổi quan niệm và nhận thức về một “nền kinh tế xanh”. Trong hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, đổi mới giáo trình, bài giảng theo hướng tiếp cận phát triển “nền kinh tế xanh”. Nâng cấp nội dung “Kinh tế môi trường” và “Kinh tế tài nguyên thiên nhiên” truyền thống theo hướng giảng dạy “Kinh tế xanh”. Nhất là trong bối cảnh hiện nay chúng ta đang thực hiện đổi mới căn bản và giáo dục toàn diện ở các cấp học bậc học trong cả nước.
- Thứ ba,đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ trong nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các lĩnh vực ngành nghề trong nội hàm của “nền kinh tế xanh” như sử dụng năng lượng tái tạo, công nghệ sản xuất tiết kiệm tài nguyên, tiêu hao ít năng lượng, công nghệ giảm thiểu phát thải khí nhà kính; hạn chế tối đa gây ô nhiễm môi trường; Phục hồi hệ sinh thái tự nhiên; Định hướng lại đầu tư công, hướng tới mức đầu tư khoảng 2% tổng chi ngân sách hàng năm cho khôi phục hệ sinh thái và bảo vệ môi trường.
- Thứ tư,đổi mới quy hoạch sử dụng đất cho phát triển đô thị, phát triển giao thông, khu công nghiệp, khu chế xuất, các công trình phúc lợi xã hội theo hướng dành quỹ đất đủ cho phát triển cây xanh, hồ nước và các công trình hạ tầng kỹ thuật môi trường theo quy định tiêu chuẩn quốc tế.
- Thứ năm,cải cách lại hệ thống thuế tài nguyên và xem xét lại thuế môi trường hướng tới phát triển nền kinh tế xanh được điều chỉnh thông qua công cụ kinh tế và cơ chế tài chính và thuế khóa nhằm khuyến khích tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên, nhất là tài nguyên quý hiếm, bảo vệ môi trường, duy trì và phát triển hệ sinh thái tự nhiên.
- Thứ sáu,đối với chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cần có sự đổi mới, xem xét lại và hoàn thiện chỉ tiêu GDP xanh, cải tiến hệ thống SNA phản ánh đủ các chỉ tiêu tính toán môi trường trong hạch toán cân đối tài khoản quốc gia. Hướng tới những hao hụt trong trữ lượng tài nguyên quốc gia cần được quy ra giá trị tiền tệ và cân đối trong hệ thống tài khoản quốc gia bao gồm hạch toán Môi trường và Kinh tế (SEEA) theo hướng dẫn của Văn phòng Thống kê Liên Hợp Quốc.
- Thứ bảy,rà soát, xem xét lại cơ chế chính sách đã có liên quan đến dịch vụ hệ sinh thái và đầu tư cho phát triển rừng thời gian vừa qua, gắn phát triển rừng với xóa đói giảm nghèo trên cơ sở phát huy hiệu quả thể chế “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, những ưu thế của công cụ kinh tế liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường (PES) rừng, bổ sung và hoàn thiện công cụ này triển khai trong cả nước. Sau đó tiếp tục PES cho các hệ sinh thái khác như hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái biển, san hô…
- Thứ tám,dựa vào tiêu chí quốc tế như đã dự tính của UNEP, đầu tư công toàn cầu 2% GDP cho phát triển kinh tế xanh, tổng kết thời gian vừa qua mức độ đầu tư cho môi trường ở Việt nam còn thiếu hụt bao nhiêu để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
- Thứ chín,tích cực hợp tác quốc tế trong nỗ lực xây dựng “Nền kinh tế xanh” ở Việt nam, huy động các nguồn lực hỗ trợ của quốc tế, nhất là nguồn vốn đầu tư 2% GDP toàn cầu cho phát triển “Kinh tế xanh”. Các cơ chế tài chính khác cho phát triển rừng như REDD+; CDM. Kinh nghiệm trước đây cho thấy Việt Nam thường bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư quốc tế cũng như các thể chế tài chính khác mà Việt nam có ưu thế như CDM. Điều này cần học tập kinh nghiệm của Trung Quốc và Ấn Độ.
III. Kết luận
Để đạt được mục tiêu chính sách kinh tế xanh và bảo vệ môi trường, cần phải chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế, hướng tới phát triển “nền kinh tế xanh” là hướng tiếp cận mới, tuy nhiên xét về dài hạn đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển chung của hệ thống kinh tế toàn cầu. Hơn nữa Việt nam là quốc gia phát triển sau, do vậy để rút ngắn khoảng cách phát triển và tiếp cận với một nền kinh tế hiện đại, văn minh và phát triển bền vững cần hướng tới một “Nền kinh tế xanh”. Tuy nhiên mô hình phát triển và cơ cấu ngành nghề thế nào phù hợp với “Nền kinh tế xanh” trong điều kiện phát triển của Việt nam cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện, học tập cách thức tiến hành của các quốc gia đã thực hiện trước để từ đó có lộ trình và bước đi phù hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. GS. Dương Thu Bảo (2011). Chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế và điều chỉnh kết cấu kinh tế. Bộ môn nghiên cứu Kinh tế học. Trường Đảng Trung ương Trung Quốc.
2. GS. Lương Bằng (2011). Lý thuyết tài chính công và cải cách thể chế tài chính công. Bộ môn giảng dạy và nghiên cứu Kinh tế học. Trường Đảng Trung ương Trung Quốc.
3.GS. Phan Duyệt (2011). Điều chỉnh và chuyển đổi Chiến lược Kinh tế đối ngoại của Trung Quốc thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính-tiền tệ. Viện nghiên cứu Chiến lược đối ngoại. Trường Đảng Trung ương Trung Quốc.
4.GS. Hàn Bảo Giang (2011). Thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính-tiền tệ và sự chuyển đổi mang tính Chiến lược về phương thức phát triển kinh tế. Phó chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế học. Trường Đảng Trung ương Trung Quốc.
5. TS.Patrica Silva (trường Đại học Copenhagen-Đan Mạch). “Thiên nhiên Việt Nam lợi thế để sống xanh”. Phụ san báo tài nguyên và môi trường. Số 02-2011. GREEN DEVELOPMENT. Trang74-75.
6. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 về “Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh”.
7. Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường (tài liệu dịch của UNEP) (2011).Hướng tới nền kinh tế xanh, lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo. Báo cáo tổng hợp phục vụ các nhà hoạch định chính sách. Nhà xuất bản nông nghiệp.
8. Phạm Minh Quang. Phó trưởng Phái đoàn thường trực CHXHCNVN tại LHQ. “Công điện số 197, ngày 23/04/2012” gửi Bộ Ngoại giao và Bộ Tài nguyên Môi trường. Công văn đến 25/4/2012.
9. Untited Nations. ESCAP- KOICA.  Economic and Commission for Asia and Pacific. Low Carbon Green Growth Roadmap for Asia and the Pacific. Turning resource constraints and the climate crisis into economic growth opportunities. Asummary for policymakers. 2012
 

H.Vân (theo kinhtemoitruong.vn)



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng