Có thể bạn chưa biết:

LUẬT DÀNH CHO GIÁM KHẢO XƯA

Thi cử ngày xưa đều lấy mục đích chọn những người tài đức ra làm quan giúp vua trị nước. Đạo Nho thích trị dân bằng đức hơn là quyền lực và luật pháp, vì Nho giáo dạy sĩ tử phải “tu thân” trước rồi mới nghĩ đến chuyện “tề gia trị quốc, bình thiên hạ”.

Hình ảnh có liên quan

Ngày nay, chuyện tiêu cực trong học hành, thi cử rất phổ biến ở mọi cấp học từ nhỏ đến lớn. Đặc biệt trong các kỳ thi quan trọng, có tính quyết định như thi tốt nghiệp PTTH, kể cả thi tuyển công chức, thi chuyển ngạch, thi lấy bằng học vị thạc sĩ, tiến sĩ thường xảy ra lắm chuyện tiêu cực. Chuyện gian lận trong thi cử xét cho cùng thì thời nào cũng có. Nhưng tác giả cho rằng chuyện thi cử ngày xưa nghiêm minh hơn bây giờ rất nhiều …

Quay cóp bị phạt tù

Vào điểm thi không những các chú học trò bị khám xét và canh phòng cẩn mật mà cả đến các quan trường thi cũng bị giám sát gắt gao, luật thi cử được soạn chặt chẽ đến từng chi tiết. Bởi thế, chuyện khoa cử thời phong kiến mặc dù kéo dài hàng trăm năm nhưng cũng chỉ xuất hiện vài vụ tiêu cực. Về sau này, khi chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu rệu rã, mục nát, khi ấy mới có nạn mua quan bán chức, gian lận trong thi cử.

Theo sử sách ghi lai, kỳ thi Hương thời nhà Nguyễn được chọn lọc rất kỷ. Học trò muốn nộp đơn vào thi Hương trước tiên phải qua kỳ thi Hạch. Định kỳ mỗi năm tổ chức một lần sát hạch, thi đạt yêu cầu mới được gọi là Khóa sinh, điểm cao nhất kỳ thi gọi là đỗ đầu xứ.

Trước kỳ thi Hương, sĩ tử phải nộp quyển thi cho quan đốc học, giống như thủ tục hồ sơ bây giờ để ghi danh đi thi. Bắt đầu từ năm 1829, thí sinh phải ghi đủ tên họ và lý lịch 3 đời trong quyển thi, và lý lịch phải được lý trưởng xác nhận. Những học trò có tiền sử xấu về nhân thân như đời ông nội, hoặc đời cha làm nghề xướng ca (nghề hát – xưa bị liệt vào nghề xướng ca vô loài), hoặc từng có án trộm cắp, cướp giật, theo giặc … đều không được dự thi. Thời đó nhiều sĩ tử rơi vào hoàn cảnh ấy cũng đã có trường hợp khai man lý lịch để được dự thi. Tuy vậy, dù họ có đạt điểm cao, hoặc đỗ đến tiến sĩ cũng bị truất phế nếu bị phát hiện.

Thời nhà Lê, có khi lý trưởng phải ra tận trường thi để nhận diện thí sinh, tránh những vụ nhờ người thi hộ. Đến các khoa cuối cùng của triều Nguyễn, các thí sinh phải dán ảnh vào hồ sơ dự thi để tránh gian lận. Thể Lệ khóa thi năm 1831 bắt buộc quyển thi không được có vết tích gì, e làm dấu hiệu thông đồng với hội đồng thi. Họ tên và quê quán thí sinh được xét tường tận, chính xác rồi quan tổng đốc và quan đốc học mới đóng triện, ký tên vào danh sách những người dự thi gởi về kinh. Từ nửa đêm. trước ngày thi, các quan mặc áo đại triều, ngồi trên ghế trước cổng vào trường thi để chứng kiến lễ điểm danh và coi lính thế sát (khám xét) không cho thí sinh mang sách và bài vở làm sẵn vào trường.

Ngay kỳ thi Hương năm 1807, những vi phạm như mang sách vào trường thi, sang lều người khác hỏi chữ, thi hộ... đều bị xem như là tội đồ. Tùy theo mức độ nặng nhẹ, có các hình thức phạt như đóng gông đuổi khỏi trường thi, đánh 100 trượng, xóa tên trong sổ không cho đi thi vĩnh viễn, giam cầm... Những người vi phạm tội nặng như phạm húy, bất túc... đều phải bị nêu tên trên bảng con (một tấm bảng ghi tên những người can tội nặng). Những can tội thường được nhắc đến là phạm húy (phạm những chữ cấm ngặt không được dùng); khiếm trung (bên chữ "vua" không được viết thêm những chư "hôn", "sát"...); cấm tì ố (quyển thi phải giữ sạch sẽ); bắt tục, bắt cộp (viết không đủ quyển, không thành bài, viết chỉ vài dòng); ngoại hàm (quyển thi bị nộp trễ) ...

Giám khảo “uống máu ăn thề”

Khảo quan (tức hội đồng coi thi) gồm quan khảo sát và quan giám sát. Quan khảo sát gồm các chức danh: nội trường (trong phòng thi) gồm có sơ khảo, phúc khảo, giám khảo, ngoại trường (ngoài phòng thi) gồm chủ khảo, phó chủ khảo và phân khảo. Ban giám sát có nhiệm vụ giám thị cả quan trường lẫn sĩ tử nếu thấy điều gì sai trái phải báo lên quan chủ khảo, nếu không sẽ bị phạt tội. Ngoài ra, còn có mật sát bí mật theo dõi bên ngoài, có lính nhà vua và voi ngựa tuần hành bảo vệ trường quy. Bên cạnh ấy quan đề tuyến nội và ngoại trường phụ trách, rọc phách, ráp phách, kê khai danh sách thí sinh, người đỗ, yết bảng...

Trước kỳ thi, triều đình dựa theo danh sách sĩ tử để bố trí số lượng khảo quan. Từ phân khảo trở lên chọn các quan kinh (làm việc tại triều), toàn những người đỗ đạt. Riêng hai quan đề tuyên thì chỉ chọn người ít chữ để không thể sửa bài hộ, vì chỉ có hai ông này biết tên người viết bài thi khi ráp phách. Ban giám khảo được triều đình cử ra rồi trình tâu nhà vua phê chuẩn. Sau đó các ông chánh, phó chủ khảo làm lễ bái mạng rồi ra bộ lễ lĩnh cờ khâm sai (chủ khảo) và biển phụng chí (phó chủ khảo). Liền đấy, hai quan giám sát theo chân hai ông chánh, phó chủ khảo về nhà, có thị vệ canh cổng, không cho tiếp xúc với người khác để phòng chuỵên thông tin ra ngoài hoặc hối lộ.

Ngay từ đầu năm 1448, danh sĩ Lê Khắc Phục vì muốn ngăn ngừa những chuyện hối lộ, đã xin triều đình buộc các quan giám khảo phải “uống máu ăn thề”. Lệ hội đồng thi bắt đầu từ đó. Các quan sơ khảo, phúc khảo được bố trí chéo. Nếu là người ở tỉnh này thì phải đổi đi chấm thi ở tỉnh khác. Nếu giám khảo có con, em, người thân thích đi thi cùng địa phương thì vị quan ấy phải tự nguyện làm giấy xin cáo không đi chấm thi, nếu không sẽ bị trừng phạt khi phát hiện. Các lại phòng (thư ký), thể sát (khám xét) do quan địa phương đề cử, cũng chọn những người không đỗ nhưng có phẩm chất thanh liêm, chính trưc để tuyển dụng khám thi.

Tạm giam Ban giám khảo

Trường thi ngày xưa được chia ra làm 2 khu vực. Khu vực cho sĩ tử và khu vực dành cho các quan hội đồng thi. Phần ngoài lại chia ra làm 4 hay 8 vi (nơi dành cho sĩ tử cắm lều). Chính giữa chỗ gặp nhau của hai con đường hình chữ thập chia phần ngoài ra làm 4, có xây một ngôi nhà gọi là nhà thập đạo. Đây là chỗ quan trường họp đề ra đầu bài và là chỗ thí sinh đến để liên hệ khi cần thiết.

Phần trong cũng chia ra làm 2 khu, trong cùng là nơi làm việc của quan sơ khảo, phúc khảo và giám khảo... tất cả đều bị “giam lỏng 5 ngày”.

Quyển thi đựơc giao phó cho đề tuyền rọc phách rồi đưa vào nội trường. Giám khảo phải khám xét dấu niêm phong trước lâu khi mở hòm phân phát cho các quan sơ khảo chấm trước tiên bằng son ta (màu gạch), xong đến các quan phúc khảo chấm lại bằng mực xanh, cuối cùng đến giám khảo duyệt lại lần nữa bằng màu hồng đơn. Những người chấm thi phải đề rõ tên họ, chức tước, điểm rồi ký tên lên mặt quyển. Nội trường chấm xong, chuyển ra đề tuyển đưa ra ngoại trường cho các quan chủ khảo, phó chủ khảo chấm lại những bài đỗ.

Quan phân khảo đọc lại những bài bị đánh hỏng xem ai đáng vớt thì trình lên chủ khảo, ngoại trường chấm bằng mực son tàu màu đỏ tươi. Chữ đẹp có thể được tăng điểm, chữ xấu quá có thể bị trừ điểm hoặc đánh hỏng. Khi chấm xong, xếp đặt theo thứ tự điểm từ cao đến thấp rồi gởi ra cho đề tuyển ráp pháp, lập danh sách những người trúng cử, niêm yết. Sau mỗi kỳ thi, chủ khảo và cả giám sát mỗi người phải làm một bản phúc trình gởi về kinh, nếu không sẽ bị phạt. Tất cả các bài thi đỗ hay hỏng đều phải được gửi về kinh thành để kiểm duyệt lại.

Khoa cử ngày xưa lấy mục đích chọn những người có tài, có đức ra làm quan giúp vua trị nước. Người quân tử theo đạo Nho trị dân bằng đức hơn là quyền uy và luật pháp, vì Nho giáo dạy sĩ tử phải “tu thân” trước rồi mới nghĩ đến chuyện “tề gia trị quốc, bình thiên hạ”. Người thiếu đức độ, gian lận trong thi cử, khi được cho làm quan thì thường tham nhũng, đục khoét của nhân dân là vậy.

Nguyễn Tấn Tuấn 



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng