Cần làm rõ khái niệm “Made in Vietnam”

Bộ Công Thương vừa đưa ra cảnh báo những rủi ro do các công ty nước ngoài “mượn” xuất xứ Việt Nam để hưởng ưu đãi khi xuất khẩu hàng hóa vào nước khác. Nhưng chúng ta ngăn chặn tình trạng này thế nào khi hành lang pháp lý để xác định xuất xứ hàng hóa của Việt Nam vẫn còn mơ hồ?

Quy tắc không rõ thì làm sao mà ghi

Ghi xuất xứ hàng hóa lên nhãn hàng là bắt buộc đối với sản phẩm lưu hành ra thị trường, bất kể là bán ở nội địa hay xuất khẩu. Hành lang pháp lý về xuất xứ hàng hóa tưởng chừng đã ban hành đầy đủ, để doanh nghiệp cứ thế mà làm, đồng thời cơ quan quản lý nhà nước, cũng như khách hàng, có thể dễ dàng kiểm tra, bóc tách nguồn gốc xuất xứ hàng hóa khi truy ngược lại. Nhưng thực tế không đơn giản như vậy.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) thừa nhận: “Hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa có quy định điều chỉnh việc hàng hóa được ghi nhãn sản xuất tại Việt Nam. Các quy định hiện đang được hoàn thiện để phù hợp với thực tế sản xuất và kinh doanh hàng hóa nhưng phạm vi điều chỉnh chủ yếu là nhãn hàng, chỉ dẫn địa lý và thương hiệu”.

Nghị định 43/2017 về nhãn hàng hóa quy định về cách ghi nhãn nhưng lại thiếu tiêu chí để xác định loại hàng hóa sản xuất như thế nào thì được ghi nhãn “sản xuất tại Việt Nam”. Các nghị định khác về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu đều không điều chỉnh về ghi nhãn, nên muốn ghi thế nào hay hiểu thế nào cũng được.

Cũng theo Cục Xuất nhập khẩu, hiện “hàng Việt Nam” có thể hiểu theo các nghĩa khác nhau: Hàng có xuất xứ Việt Nam để hưởng ưu đãi thuế quan theo các cam kết hội nhập; hàng hóa có công đoạn sản xuất tại Việt Nam hay hàng hóa có thương hiệu của Việt Nam. Các khái niệm này khác nhau nhưng thường bị lẫn lộn.

Vậy tiêu chí để phân biệt một sản phẩm là “Made in Vietnam” là như thế nào và tại sao đã có các quy định về xuất xứ hàng hóa để định lượng mọi cấu thành, gốc gác hàng hóa, nhưng lại không thể ghi nhãn? Trong khi quy tắc xuất xứ hàng hóa là thứ rất quan trọng vì đây là công cụ kỹ thuật thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) làm gia tăng hay giảm đi các chi phí tuân thủ mà doanh nghiệp phải gánh chịu dưới hình thức kê khai các form xuất khẩu (C/O). Mặt khác, xuất xứ hàng hóa, đặc biệt là ghi nhãn, nếu không tuân thủ đúng các cam kết trong FTA hoặc các quy định pháp luật của quốc gia mà Việt Nam xuất hàng vào, thì đồng nghĩa với các vụ kiện về thương mại, chống bán phá giá, chống trợ cấp... sẽ xảy ra thường xuyên và gây thiệt hại nặng nề.

Nút thắt “Nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng”

Nghị định 19/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa đã quy định “xuất xứ hàng hóa là nơi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa (xuất xứ thuần túy) hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó (xuất xứ không thuần túy)”.

Nghị định 31/2018 về xuất xứ hàng hóa giữ lại những quy định nêu trên. Việc xác định sản phẩm có xuất xứ thuần túy (100% sản xuất tại quốc gia đó) thì đơn giản không nói làm gì. Việc xác định xuất xứ không thuần túy mới là vấn đề. Nghị định 19 (cũ) có ghi sản phẩm có xuất xứ không thuần túy là sản phẩm có tỷ lệ phần trăm giá trị nguyên liệu không có xuất xứ từ Việt Nam lớn hơn hoặc bằng 30% tổng giá trị của hàng hóa được sản xuất ra, thì vẫn được coi là xuất xứ Việt Nam.

Nghị định 31 không còn giữ lại tỷ lệ 30% này nữa và bổ sung thêm các quy định chi tiết về các công đoạn trong chuỗi hình thành một sản phẩm không được tính vào quy tắc xuất xứ, như thay đổi bao bì, tháo dỡ hay lắp ghép các lô hàng, đóng gói, lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh hay kết hợp của hai hay nhiều công việc đã liệt kê trong các khoản nói trên trong việc tạo ra một sản phẩm.

Song các quy định loại trừ trên thực tế không mấy giá trị. Vì quy định chỉ cần sản phẩm có “nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa” trong trường hợp hàng được phối hợp sản xuất ở nhiều quốc gia là được tính xuất xứ Việt Nam. Nó dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp, sản phẩm “mượn” xuất xứ Việt Nam để hưởng lợi từ các FTA hoặc lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại của nước nhập khẩu. Ví dụ như vụ ngành thép Việt Nam bị Hiệp hội các nhà sản xuất ống thép Mỹ kiện vào năm 2012. Phía Mỹ kiện Công ty Thép SeAH Việt Nam và Công ty Chế tạo máy Hồng Nguyên (Hải Phòng) bán phá giá vào thị trường Mỹ do nghi ngờ các bị đơn này bán thép có nguồn gốc từ Trung Quốc (nơi bị Mỹ đánh thuế chống bán phá giá rất cao) vào Việt Nam. Các bị đơn bắt buộc phải thuê luật sư với chi phí rất tốn kém để không bị áp thuế chống bán phá giá cao. Và chỉ tính trong hai năm (2016-2017), trong số 78 vụ kiện chống bán phá giá với hàng Việt, có tới phân nửa là kiện ngành thép. Nó cho thấy nhiều quốc gia không tin tưởng với nguồn gốc xuất xứ sản phẩm Việt và luôn đưa vào “tầm ngắm”. Sự thiếu niềm tin đó rất có thể do xuất xứ hàng Việt Nam còn mập mờ và ghi nhãn thiếu rõ ràng.

Xây dựng tiêu chí ghi nhãn vì thế cần rất rõ ràng để tránh các vụ kiện có nguy cơ nối dài. Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ và các bên liên quan đã bàn đến việc xây dựng quy định về ghi nhãn. Tuy nhiên đến nay quy định cụ thể thế nào chưa được công bố mà vẫn khuyến khích doanh nghiệp trên tinh thần tự nguyện và trung thực.

Nhiều quốc gia có đòi hỏi ngặt nghèo về nguồn gốc sản phẩm như Úc, ngoài ghi nhãn là sản xuất tại đâu còn phải bổ sung thêm một số quy định ghi trên nhãn như xuất xứ của các thành phần thực phẩm theo dạng biểu đồ kèm logo nhà sản xuất và phải đưa thông tin vào ô xác định trên sản phẩm nhằm mục đích truy xuất nguồn gốc.

Có thể Việt Nam chưa đạt được các quy định về ghi nhãn như trên song để tránh hiểu lầm cho người tiêu dùng, vẫn phải đề ra các quy định bắt buộc về xuất xứ, tách riêng thành các quy định ghi nhãn: “lắp ráp”, đóng gói”, “pha trộn” hoặc “thiết kế lắp ráp tại Việt Nam từ các nguyên liệu nhập khẩu” và có công thức để xác định mức độ cho mỗi loại nhãn được ghi. Hay như sản phẩm chế tạo thì quy định phải nêu rõ các thành phần quan trọng được chế tạo ở đâu, công đoạn nào chế tạo ở nước ngoài... mới cho ra các quy định ghi nhãn cụ thể, tránh mập mờ.

Bởi nếu vẫn tiếp tục cho phép “nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa” được tính là xuất xứ Việt Nam thì việc “mượn” xuất xứ để hưởng ưu đãi và lẩn tránh các biện pháp chống đánh thuế sẽ còn kéo dài, ảnh hưởng đến cả nền sản xuất nói chung, không riêng gì hàng xuất khẩu.

Lan Nhi/TBKTSG



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng