Việt Nam đang ở đâu trong thế giới đương đại

Để biết được Việt nam ta đang đứng ở đâu trong Thế giới đương đại này, xin cung cấp cho bạn đọc một vài tư liệu để tham khảo thêm:

1.Thế giới hiện có bao nhiêu quốc gia?

Theo Điều 1, Công ước Montevideo năm 1933, một quốc gia có chủ quyền phải có những đặc điểm sau: (a) dân số ổn định, (b) lãnh thổ xác định, (c) chính phủ, và (d) khả năng quan hệ với các quốc gia khác.Danh sách quốc gia này bao gồm các quốc gia độc lập chính danh (de jure) và độc lập trên thực tế (de facto).

Hiện có 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc; 1 quan sát viên  Thành Vatican; 2 quốc gia không được nhiều nước thừa nhận, độc lập trên thực tế: Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan), Kosovo; 2 quốc gia được nhiều nước thừa nhận, nhưng thực tế không độc lập: Palestine và Tây Sahara; 6 quốc gia tuy tuyên bố là độc lập nhưng không được cộng đồng quốc tế thừa nhận: AbkhaziaBắc Síp (riêng nước này được duy nhất  Thổ Nhĩ Kỳ công nhận), Nagorno-KarabakhNam OssetiaSomaliland

Transnistria.

Anh KTXH4

2.Về dân số Việt nam đứng ở vị trí nào?

Theo dân số vào ngày 01/7/2012 , Thế giới hiện có 7,02 tỷ người, đông nhất là CHND Trung hoa 1,35 tỷ, Ấn độ xếp thứ nhì... Việt nam ta là một trong 15 nước đông dân nhất thế giới, hiện xếp thứ 14 với 92,48 triệu người.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan và Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đến thăm và tặng quà cho cháu Nguyễn Thị Thùy Dung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương sáng 1/11/2013

3. Về diện tích Việt nam đang ở đâu?

Tổng diện tích bề mặt Trái Đất là 510.065.284 km², 70,8% bề mặt (361.126.221 km²) là nước, trong khi chỉ 29,2% bề mặt (148.939.063 km²) là đất liền.

Theo thứ tự Nga là quốc gia có diện tích lớn nhất 17,1 triệu km2, Canada đứng thứ nhì gần 10 triệu km2...Việt nam  có diện tích rất khiêm tốn 331.212 km2, đứng thứ 65.

4.Về mật độ dân số Việt nam?

Do đất chật người đông, mật độ dân số của nước ta xếp vào loại cao trên thế giới. Mật độ dân số năm 2013 là 277người/km2 đứng hàng thứ 42-43, tương đương với Philippines. Ở châu Á, Việt Nam chỉ xếp sau Singapore 6.407; Banladesh 965; Đài Loan 636; Hàn Quốc 480; Liban, Nhật Bản, Ấn Độ...

5.Về GDP Việt Nam đang nằm ở đâu trong khuvực?

Theo VFPress, dù đã có mức phát triển nhanh trong 20 năm qua, nhưng về khoảng cách tuyệt đối Việt Nam vẫn thua rất xa với các nước Đông Nam Á khác.

Tính từ cải cách đổi mới năm 1986, Việt Nam  từng là một trong những tâm điểm đầu tư của thế giới trong 20 năm qua.Việt Nam đã có những bước nhảy “thần kỳ” phát triển kinh tế, thoát khỏi một nước nghèo nàn lạc hậu để trở thành một một nước có thu nhập trung bình.

Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng của Việt Nam như thế nào thì có lẽ ít người mường tượng được, nhất là khi so sánh với các nước trong khu vực. Tính về tốc độ tăng trưởng tương đối, Việt Nam có tăng trưởng cao nhất khu vực. Nhưng khi tính về số tuyệt đối, Việt Nam vẫn có một khoảng cách khá xa với các trong khu vực, nhất là khi tốc độ tăng trưởng đang có dấu hiệu chậm lại. Nếu lấy mốc năm 1989, sau khi Việt Nam thực hiện đổi mới cải cách nền kinh tế, và vượt qua được cơn bão lạm phát , lúc đó GDP ở mức 6,3 tỷ USD, trong khi đó Indonesia 101 tỷ USD, Thái Lan 72 tỷ USD, Philippines 42 tỷ USD, Malaysia 38,8 tỷ USD, Singapore 30 tỷ USD.

Sau hơn 20 năm phát triển kinh tế, thứ hạng giữa các nước có sự thay đổi không nhiều, tuy nhiên khoảng cách ngày càng lớn. Việt Nam hiện có GDP ở mức 106 tỷ. Tuy nhiên, dẫn đầu là Indonesia lại ở mức 708 tỷ USD. Indonesia là nước có phát triển ấn tượng nhất khu vực Đông Nam Á, chính vì vậy tiền đầu tư khắp thế giới đã liên tục đổ về nước này trong thập kỷ vừa qua. Đứng thứ 2 là Thái Lan ở mức 319 tỷ USD, Malaysia vươn lên thứ 3 với 238 tỷ, Singapore là 213, và Philippines là 199,5 tỷ USD.

Dù Việt Nam đã có mức phát triển nhanh trong 20 năm qua, nhưng về khoảng cách tuyệt đối vẫn còn thua rất xa với các nước Đông Nam Á, chưa nói đến so với các nước trên thế giới. Khi nền kinh tế có quy mô ngày càng lớn, thì để đạt tăng trưởng cao như quá khứ là một việc rất khó khăn. 

6.Về GDP tính theo sức mua tương đương của Việt nam?

Theo bảng xếp hạng GDP năm 2012 mới nhất của ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam được xếp hạng 42/214 quốc gia và vùng lãnh thổ, vượt trên nhiều nước châu Âu như Na-uy, Phần Lan, Đan Mạch.

Bảng xếp hạng trên vừa được WB công bố hồi tuần trước. Theo đó quy mô tổng sản phẩm quốc nội theo sức mua (GDP PPP) của Việt Nam năm 2012 là 322,72 tỷ USD, vượt trên cả Na-uy (315 tỷ USD), Đan Mạch (231,4 tỷ USD) hay Phần Lan (206,1 tỷ USD).

So với khu vực Đông Nam Á, GDP của Việt Nam xếp hạng 6, sau Indonesia (1.223,5 tỷ USD), Thái Lan (655,5 tỷ USD), Malaysia (501,2 tỷ USD), Philippines (426,7 tỷ USD) và Singapore (328,3 tỷ USD).

Trong khi đó ở phía trên bảng xếp hạng, vị trí dẫn đầu vẫn thuộc về Mỹ với quy mô GDP 15.684,8 tỷ USD, xếp trên Trung Quốc với 12.470,9 tỷ USD. Nhưng ngạc nhiên hơn cả là theo bảng xếp hạng này, Ấn Độ đã qua mặt cả Nhật và Đức để giành vị trí thứ ba với quy mô GDP 4.793,4 tỷ USD. Tương tự, GDP của Nga cũng vươn lên hàng thứ 5 thế giới, chỉ xếp sau Nhật. Phải chăng bảng xếp hạng trên đã có những nhầm lẫn?

Trên thực tế, không hề có sự nhầm lẫn nào cả. Bảng xếp hạng GDP trên được WB thực hiện dựa trên ngang giá sức mua (PPP) và khác với GDP danh nghĩa mà các nước vẫn thường công bố.

GDP theo ngang giá sức mua là GDP danh nghĩa của một nước được quy đổi sang một đồng tiền quốc tế (thường là USD) theo tỷ lệ ngang giá sức mua. Tỷ lệ ngang giá sức mua được quyết định bởi lượng hàng hóa và dịch vụ mà 1 USD có thể mua được ở các nước khác nhau.

Với cách tính này, GDP theo PPP của các quốc gia đang phát triển thường cao hơn GDP danh nghĩa do 1 USD tại các nước này có sức mua lớn hơn tại các nước phát triển.

Theo công bố cũng của WB trong tháng 7, GDP danh nghĩa của Việt Nam năm 2012 là 141,7 tỷ USD và xếp hạng 51/190 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong khi đó GDP danh nghĩa của Trung Quốc chỉ là 8.227,1 tỷ USD, nhỏ hơn rất nhiều con số GDP (theo PPP) 12.470,9 tỷ USD.

Trong một bản báo cáo cập nhật về kinh tế Việt Nam được WB công bố ngày 12/7 vừa qua, GDP của Việt Nam trong năm nay được dự báo tăng trưởng ở mức 5,3% trước khi nhích lên 5,4% trong năm tới.

7.Về thế mạnh và xuất khẩu của Việt nam?

7.1. Mười một nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam

Tổng cục Hải quan vừa công bố con số thống kê mới nhất cho thấy, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam cả năm 2013 đạt 264,26 tỷ USD, tăng 15,7% so với năm 2012.

Trong đó, xuất khẩu đạt 132,135 tỷ USD, tăng 15,4% và nhập khẩu đạt 132,125 tỷ USD, tăng 16,1%. Cán cân thương mại hàng hoá khá cân bằng trong năm 2013.

Khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong năm 2013 là 155,34 tỷ USD, tăng 25,3% so với năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu là hơn 80,91 tỷ USD, tăng 26,3% và nhập khẩu là 74,43 tỷ USD, tăng 24,2%. 

Xuất nhập khẩu của khu vực các doanh nghiệp có vốn hoàn toàn trong nước đã có những chuyển biến hơn so với năm trước. Cụ thể, trong năm 2013 trị giá xuất nhập khẩu của khối này là 108,92 tỷ USD, tăng 4,4% so với năm trước (năm 2012 giảm 2,4%), trong đó xuất khẩu là 51,22 tỷ USD, tăng 1,5% và nhập khẩu là gần 57,7 tỷ USD, tăng 7,2%.

Trong các nhóm hàng chủ lực xuất khẩu năm 2013 của Việt Nam phải kể đến điện thoại các loại & linh kiện đạt trị giá xuất khẩu cả năm 2013 là 21,24 tỷ USD, tăng cao tới 67,1% so với năm trước.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện đạt tổng trị giá xuất khẩu 10,6 tỷ USD, tăng 35,3% so với năm 2012. Trong năm qua, EU chính thức vượt Trung Quốc trở thành đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam. Cụ thể, xuất sang EU đạt 2,4 tỷ USD, tăng tới 50,1%; xuất sang Trung Quốc đạt 2,09 tỷ USD, tăng 10,5%; xuất sang Hoa Kỳ đạt 1,47 tỷ USD, tăng 57,6%; sang Malaixia đạt 1,18 tỷ USD, tăng 38,3%.

Trị giá xuất khẩu hàng dệt may đạt 17,95 tỷ USD, tăng 18,9% so với năm 2012. Trong năm qua, hàng dệt may của Việt Nam xuất sang thị trường Hoa Kỳ đạt 8,61 tỷ USD, tăng 15,5%; sang EU đạt 2,73 tỷ USD, tăng 11,1%; sang Nhật Bản đạt 2,38 tỷ USD, tăng 20,7% và sang Hàn Quốc: 1,64 tỷ USD, tăng 53,5% so với cùng kỳ năm 2012.

Trong năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu 8,41 tỷ USD giày dép các loại, tăng 15,8% so với năm 2012. Trong đó, thị trường EU và Hoa Kỳ là 2 thị trường chính nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam với kim ngạch và tốc độ tăng lần lượt là 2,96 tỷ USD (tăng 11,8%) và 2,63 tỷ USD (tăng 17,3%).

Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng khác đạt tổng trị giá xuất khẩu 6,01 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm 2012. Trong năm 2013, xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường Nhật Bản là 1,21 tỷ USD, giảm 1,4%; sang Hoa Kỳ:hơn 1 tỷ USD, tăng 7,1%; sang EU: 734 triệu USD, tăng 12,4%; sang Trung Quốc: 373 triệu USD

Trị giá xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam đạt 6,72 tỷ USD, tăng 10,3% so với năm trước. Trong năm qua, hàng thủy sản của Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao ở các thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc, Canađa, Braxin; tuy nhiên chỉ tăng nhẹ ở các thị trường Liên minh châu Âu (EU 27), Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia...

Mặt hàng gỗ & sản phẩm gỗ đạt kim ngạch xuất khẩu cả năm 2013 lên 5,56 tỷ USD, tăng 19,2% so với năm 2012. Trong năm 2013, nhóm hàng gỗ & sản phẩm gỗ xuất sang Hoa Kỳ đạt hơn 2 tỷ USD, tăng 12,2%; sang Trung Quốc: 1,05 tỷ USD, tăng mạnh 47,1%; sang Nhật Bản: 820 triệu USD, tăng 22,5%… so với năm 2012.

Tổng lượng xuất khẩu mặt hàng cao su đạt gần 1,08 triệu tấn, tăng 5,2%; trị giá đạt 2,49 tỷ USD, giảm 12,9% so với năm 2012. Trung Quốc vẫn là đối tác chính nhập khẩu cao su của Việt Nam trong năm qua với hơn 507 nghìn tấn, tăng 3% và chiếm 47% lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là Malaixia: gần 224 nghìn tấn, tăng 11,6%; Ấn Độ: hơn 86 nghìn tấn, tăng 20,5%... so với năm 2012.

Tính trong năm 2013, lượng xuất khẩu nhóm hàng gạo là 6,59 triệu tấn, giảm 17,8% và trị giá đạt gần 2,93 tỷ USD, giảm 20,4% so với năm trước.

Trong năm 2013, Việt Nam xuất khẩu gạo chủ yếu sang các thị trường:  Trung Quốc: 2,15 triệu tấn, tăng 3,3%; Bờ biển Ngà: 561 nghìn tấn, tăng 17%; Philippin: gần 505 nghìn tấn.

Tính cả năm 2013, lượng xuất khẩu mặt hàng điều là hơn 261 nghìn tấn, tăng 17,9% và trị giá là gần 1,65 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước.

Tổng lượng than xuất khẩu của cả nước trong năm 2013 là hơn 12,8 triệu tấn,giảm 15,7%; trị giá xuất khẩu là gần 916 triệu USD, giảm 26,1% so với năm 2012. Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhập khẩu than đá của Việt Nam trong năm 2013 với 9,86 triệu tấn, giảm 18,6% và chiếm gần 77% tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước. Tiếp theo là thị trường Nhật Bản: gần 1,25 triệu tấn, tăng 18,9% và Hàn Quốc: 1,07 triệu tấn, bằng với năm trước.

7.2.Mười điểm vượt trội của xuất khẩu năm 2013?

Điểm vượt trội thứ nhất, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vượt khá xa so với chỉ tiêu kế hoạch. Kế hoạch năm 2013 đề ra chỉ tiêu tăng 10%, tính ra kim ngạch tuyệt đối là 126 tỷ USD. Kế hoạch 5 năm đề ra chỉ tiêu tăng 12%/năm, tính ra kim ngạch tuyệt đối đến năm 2015 là 126,23 tỷ USD. Ước tính của Tổng cục Thống kê cho thấy, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2013 đạt trên 132,2 tỷ USD.

Điểm vượt trội thứ hai, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân đầu người đạt trên 1.473 USD, cao nhất từ trước đến nay, vượt xa so với kỷ lục đã đạt được vào năm trước (1.249 USD/người).

Điểm vượt trội thứ ba, tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu hàng hóa/GDP năm 2013 đã vượt qua mốc 77,5%, cao nhất từ trước đến nay và thuộc loại cao trên thế giới. Điều đó chứng tỏ độ mở cửa của nền kinh tế Việt Nam thuộc loại khá cao.

Điểm vượt trội thứ tư, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt khá cao (trên 15,4%). Đây là tốc độ tăng cao nhất trong các ngành, lĩnh vực, cao gấp rưỡi tốc độ tăng theo kế hoạch, cao gấp trên 2,8 lần tốc độ tăng trưởng GDP. Xuất khẩu/GDP và tốc độ tăng xuất khẩu/tốc độ tăng GDP cao như trên đã chứng tỏ xuất khẩu là lối ra, là động lực tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.

Điểm vượt trội thứ năm, “câu lạc bộ” các mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên đã tăng về số lượng thành viên, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và thứ bậc của các mặt hàng có sự thay đổi.

Điểm vượt trội thứ sáu, cơ cấu xuất khẩu đã có sự chuyển dịch tích cực. Tỷ trọng mặt hàng là nguyên liệu thô, hàng chưa qua chế biến, hoặc mới sơ chế (như gạo, cà phê, sắn và sản phẩm từ sắn, than đá, dầu thô…) đã giảm xuống (từ 49,7% năm 2005 xuống 34,8% năm 2010, 2011 và tiếp tục giảm trong năm 2012, 2013). Tỷ trọng hàng chế biến, hoặc đã tinh chế (như điện thoại các loại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử, dệt may, giày dép, máy móc…) tăng tương ứng (từ 50,3% năm 2005 lên 65,1% năm 2010 và có thể còn cao hơn nữa trong vài ba năm nay). Trong các mặt hàng chế biến, tỷ trọng một số mặt hàng có trình độ thiết bị, kỹ thuật - công nghệ cao như điện thoại, máy tính, sản phẩm điện tử, máy móc thiết bị, máy ảnh, máy quay phim… tăng lên. Đây là tín hiệu sáng của cơ cấu sản xuất, xuất khẩu.

Điểm vượt trội thứ bảy, tất cả 63 tỉnh/thành phố đều có sản phẩm xuất khẩu. Trong đó, “câu lạc bộ” các địa bàn đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên có 23 thành viên. Đặc biệt, 2013 là năm đầu tiên Việt Nam có 2 địa bàn đạt kim ngạch trên 20 tỷ USD (TP.HCM và Bắc Ninh).

Điểm vượt trội thứ tám, cùng với việc mở rộng ra nhiều thị trường là việc tập trung phát triển các thị trường lớn. “Câu lạc bộ” thị trường đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên trong năm 2013 đã lên đến 27. Đáng lưu ý, lần đầu tiên, Việt Nam có 3 thị trường đạt trên 10 tỷ USD (Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc), đặc biệt là Hoa Kỳ đạt trên 23,7 tỷ USD.

Điểm vượt trội thứ chín, nếu thời kỳ 2006 - 2010, mức nhập siêu bình quân lên đến 12,55 tỷ USD/năm, thì bình quân 3 năm 2011 - 2013 chỉ 3 tỷ USD/năm, chỉ bằng khoảng 1/4 mức bình quân trong 5 năm trước, trong đó, năm 2012 lần đầu tiên sau 20 năm đã xuất siêu và năm 2013 là năm thứ 2 xuất siêu liên tiếp. Trong năm 2013, đã có 15 thị trường Việt Nam xuất siêu lớn, như Hoa Kỳ, Tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất, Anh, Campuchia, Hồng Kông, Hà Lan, Nhật Bản, Đức, Tây Ban Nha, Australia, Áo, Italy, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ. Mức nhập siêu giảm mạnh đã góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá, góp phần kiềm chế lạm phát…

Điểm vượt trội thứ mười, xuất khẩu tăng cao như trên càng có ý nghĩa, khi đạt được trong điều kiện nhu cầu của nhiều nước còn bị “co lại”, trong điều kiện có nước đã sử dụng hàng rào kỹ thuật để bảo vệ sản xuất trong nước của họ bằng nhiều giải pháp, như kiện và đánh thuế chống bán phá giá, giảm giá đồng tiền để khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu…

7.3.So sánh xuất khẩu của Việt nam với các nước Đông Nam Á?

Phạm vi bài viết chỉ cung cấp thông tin kim ngạch xuất/nhập khẩu của các nước đang tham gia đàm phán TPP . Theo Niên giám Thống kê 2012 (số liệu đến năm 2011), tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước thành viên TPP (chưa tính của Việt Nam) đạt 5.158 tỷ USD (Singapore: 501 tỷ USD, Chile 95, New Zealand 48, Brunei 12, Mỹ 2.094, Australia 294, Peru 51, Malaysia 264, Mexico 365, Canada 541, Nhật Bản 893 tỷ USD).

Tổng kim ngạch nhập khẩu của 11 nước này đạt 5.659 tỷ USD (Singapore: 437 tỷ USD, Chile 86, New Zealand46, Brunei 3, Mỹ 2.662, Australia 273, Peru 44, Malaysia 218, Mexico 381, Canada 562, Nhật Bản 947 tỷ USD).

Năm 2013, Singapore xuất khẩu hơn 500 tỷ USD, Thái Lan xuất khẩu khoảng 230 tỷ USD, Malaysia 205 tỷ, Indonexia 200 tỷ, Việt nam 132 tỷ,  Philipin 54 tỷ, Myanmar 10 tỷ, Campuchia 7 tỷ. Như vậy Xuất khẩu của Việt nam còn quá thấp.

Đỗ Văn Phú (Tổng hợp)



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng