Chuẩn hóa chuỗi giá trị nông sản khi vào thị trường EU

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực sẽ tác động tích cực trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, nhất là với nhóm sản phẩm nông nghiệp. Song, vấn đề cần làm là phải chuẩn hóa chuỗi giá trị trong nước.

Cơ hội lớn cho nông, thủy sản ĐBSCL

Nhóm hàng nông nghiệp của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang có cơ hội lớn khi các dòng thuế được xóa ngay hoặc được cắt giảm theo lộ trình sau khi EVFTA có hiệu lực. Trong khi đó, theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), nhu cầu nhập khẩu của thị trường Liên minh châu Âu (EU) là rất lớn, khoảng 2.338 tỉ đô la Mỹ vào năm 2018. Thị phần xuất của Việt Nam chỉ mới chiếm khoảng 2% thị trường này.

Nhiều công ty chế biến thủy sản đến đường cùng vì sự cố Formosa

Đối với ngành thủy sản, Cục Xuất nhập khẩu cho biết, EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam (sau Mỹ và Nhật Bản), với kim ngạch đạt 1,25 tỷ đô la, chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong năm ngoái.

Với con tôm – mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các doanh nghiệp ĐBSCL, mức thuế của tôm sú đông lạnh từ 4,2% giảm về 0% ngay khi EVTFA có hiệu lực. Trong khi đó tôm thẻ chân trắng đông lạnh sẽ giảm dần về 0% sau năm năm.

So với các đối thủ cạnh tranh, đây là mặt hàng có lợi thế rất lớn của Việt Nam, bởi Thái Lan đang chịu mức thuế cơ bản là 12%; Ấn Độ và Indonesia chịu thuế 4,2%; Ecuador giống như Thái Lan chịu mức thuế cơ bản là 12%.

Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần thực phẩm SaoTa (FMC) nhận định thị trường trọng điểm mà ngành tôm Việt Nam hướng tới sau ngày 01/8/2020 – thời điểm EVFTA có hiệu lực – chính là EU. “Mức độ tăng trưởng ngành tôm chắc chắn sẽ tốt hơn khi thị trường rộng lớn này có mức thuế đối tôm giảm mạnh, ông Lực nói”.

Với mặt hàng cá ngừ, EU sẽ xóa bỏ thuế quan cho các sản phẩm cá ngừ tươi sống/đông lạnh ngay khi EVFTA có hiệu lực, trừ thăn, phi lê cá ngừ đông lạnh (mã HS 030487) theo lộ trình cắt giảm trong ba năm; các sản phẩm thăn, phi lê cá ngừ hấp (nguyên liệu để sản xuất cá ngừ đóng hộp) được xóa bỏ thuế quan theo lộ trình bảy năm, từ mức thuế cơ bản 24% như hiện nay. “Riêng các sản phẩm cá ngừ chế biến đóng hộp, đóng túi, các sản phẩm cá thuộc họ cá ngừ đóng hộp... EU sẽ miễn thuế trong mức hạn ngạch 11.500 tấn/năm”, theo Cục Xuất nhập khẩu.

Trong khi đó, thuế EU dành cho cá tra Việt Nam trong EVFTA sẽ được giảm từ 5,5% hiện nay về 0% vào năm thứ ba sau khi hiệp định này có hiệu lực.

Một số sản phẩm chế biến đang có mức thuế cơ bản 20% như hàu, sò điệp, mực, bạch tuộc, nghêu, sò, bào ngư... se giảm về 0% ngay khi EVFTA có hiệu lực.

Với nhóm hàng rau quả, EU cam kết mở cửa rất mạnh: xóa bỏ ngay 94% trong tổng số 547 dòng thuế. Trong đó, có nhiều sản phẩm là thế mạnh của Việt Nam cũng như khu vực ĐBSCL: nhãn, chôm chôm, thanh long, dứa, dưa, vải....

Phần lớn dòng thuế EU cam kết xóa bỏ ngay hiện đang có mức thuế trung bình là trên 10%, cá biệt có những sản phẩm rau quả đang chịu thuế trên 20%. Do đó, mức cam kết này sẽ tạo ra lợi thế rất lớn về giá cho rau quả Việt Nam so với các đối thủ.

Còn với mặt hàng gạo, EU dành cho Việt Nam hạn mức miễn thuế 80.000 tấn/năm, bao gồm 30.000 tấn gạo xay xát, 20.000 tấn gạo chưa xay xát và 30.000 tấn gạo thơm. Đặc biệt, EU sẽ tự do hóa hoàn toàn đối với gạo tấm, thuế về 0% sau năm năm có hiệu lực; đối với sản phẩm từ gạo, EU cho Việt Nam được hưởng thuế suất 0% sau 3-5 năm.

Chuẩn hóa – yêu cầu phải đáp ứng

Để tận dụng cơ hợi mang lại cho ngành nông nghiệp từ EVFTA, theo Cục Xuất nhập khẩu, cần thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Trong dó, phải tập trung chuẩn hóa chất lượng sản phẩm xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Đồng thời, công nghệ bảo quản sau thu hoạch đối với các các loại rau quả tươi cũng là vấn đề cần được triển khai ứng dụng.

Chuyên gia kinh tế Trần Hữu Hiệp cho rằng thời gian qua hoạt động sản xuất nông nghiệp của ĐBSCL đã có những tiến bộ. “So với trước, rõ ràng đã nhận được sự quan tâm đầu tư, phát triển vùng nguyên liệu của một số doanh nghiệp lớn”, ông Hiệp dẫn chứng.

Tuy nhiên, theo ông Hiệp, đó là đánh giá so với trước, tức có tiến bộ so với quá khứ. Nhưng so với yêu cầu hiện tại, đặc biệt là những thách thức khi Việt Nam gia nhập thị trường lớn, đòi hỏi ngày càng cao hơn của những cam kết như EVFTA, thì vẫn còn một khoảng trống đòi hỏi cần hoàn thiện.

Thứ nhất, sản phẩm xuất khẩu phải hoàn thiện về tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu về đảm bảo truy xuất nguồn gốc, tức chuỗi giá trị sản phẩm của doang nghiệp phải thật sự gắn kết và quy được trách nhiệm.

Thứ hai, giữa các tác nhân tham gia chuỗi phải liên kết chặt, chứ không thể cắt khúc nhu vừa qua. Ví dụ, tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, thời gian qua vẫn có thể bị tác động bởi giá cả, tức người mua và người bán bẻ kèo, quay ngược lại với nhau, ông Hiệp nói. Ông cho rằng đây là mối liên kết hết sức lỏng lẻo – một điểm yếu cần khắc phục để chuẩn hóa chuỗi giá trị, tạo sản phẩm chất lượng, đáp ứng yêu cầu của EVFTA.

Theo ông Nguyễn Minh Toại, Giám đốc Sở Công Thương thành phố Cần Thơ, với EVFTA, doanh nghiệp sẽ tự làm truy xuất nguồn ngốc, cho nên khi thực hiện đúng, sản phẩm sang EU sẽ rất thuận lợi. “Nhưng nếu chỉ một đơn vị làm sai thì họ có thề cấm cả ngành hàng, thành ra phải có lộ trình và phải có kiểm soát của chính quyền nhằm không để một trường hợp làm ảnh hưởng cả quốc giá”, ông Toại nói.

Ông Phạm Đình Vũ, Chánh Văn phòng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng EVFTA được xem là “đường cao tốc” để nối thị trường Việt Nam với EU. Tuy nhiên, để tham gia được vào “đường cao tốc”, bên cạnh phải tháo gỡ các rào cản về mặt thể chế thì doanh nghiệp phải tự nâng cấp theo các cam kết, luật lệ của quốc tế để chạy tốt trên đường này. “Người cầm lái phương tiện tham gia trên cao tốc cũng phải chuẩn, đặc biệt là phải nắm vững pháp luật để tham gia tốt”, ông nhận định và gợi ý doanh nghiệp nâng cao trình độ quản trị.

TC/TBKTSG



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng