Một số bài thuốc từ cây Gừng

 

Ở Việt nam, gừng được dùng tươi như một loại gia vị hoặc chế biến thành nhiều sản phẩm như mứt, kẹo, rượu, thuốc... Gừng được trồng phổ biến trong các hộ gia đình với qui mô nhỏ, sản lượng chưa nhiều, chủ yếu để tiêu thụ tại chỗ hoặc thị trường nội địa.

Cay gung 1

1. Phân loại

Cây gừng có tên khoa học Zingiber officinal Rosc họ gừng Zingiberaceae. Dân gian còn gọi cây gừng là Khương, Sinh khương, Can khương... 

2. Đặc điểm thực vật, phân bố của cây gừng:

Hình thái: Gừng là cây thường niên, thân thảo. Thông thường, cây cao 0,6 -1 m, thân ngầm phình to chứa dưỡng chất gọi là củ, xung quanh có các rễ tơ; củ và rễ chỉ phát triển tập trung ở lớp đất mặt (sâu 0 -15 cm).

Lá mọc so le không cuống, màu xanh đậm, hình mác, dài 15 -20 cm, rộng 2 cm, chỉ có bẹ mà không có cuống, mặt nhẵn bóng, độ che phủ của tán lá thấp.

Cây gừng ít khi ra hoa, trục hoa mọc ra từ gốc, dài 15 -20 cm; hoa màu vàng xanh dài tới 5 cm, rộng 2 -3 cm, có 3 cánh hoa dài khoảng 2 cm, mép cánh hoa và nhị hoa có màu tím.

Ở nước ta gừng được trồng quanh năm, khắp nơi trong cả nước. Ở miền Nam, vụ trồng gừng chính là đầu mùa mưa (tháng 4 - 5 hàng năm). Gừng trồng bằng củ, có nhiều mấu không bị dập nát.

Cây gừng là cây nhiệt đới nên được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới (nhiệt độ trung bình 21 -27 oC, lượng mưa 1.500 -2.500 mm, độ cao đến 1.500 m), có mùa khô ngắn.

3.Dược tính và công dụng

Theo Cơ sở dữ liệu USDA giá trị dinh dưỡng và các hoạt chất trong 100 g củ gừng tươi(3,5 oz) : Năng lượng - 80 kJ (19 kcal); Cacbohydrat - 17,77g; Đường - 17g;  chất xơ thực phẩm - 2g; chất béo - 0,75 g; Protein - 1,82g; Thiamin (Vit. B1) - 0,025 mg (2%); Riboflavin (Vit. B2) - 0,034 mg (2%); Niacin (Vit. B3) - 0,75 mg (5%); Axit pantothenic (Vit. B5) - 0,203 mg (4%); Vitamin B6 - 0,16 mg (12%); Axit folic (Vit. B9) - 11 μg (3%); Vitamin C - 5 mg (8%); Canxi - 16mg 2%); Sắt - 0,6mg (5%); Magie - 43mg (12%); Phospho - 34mg (5%); Kali - 415mg (9%); Kẽm - 0,34mg (3%). (Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngày của người lớn).

Theo y học cổ truyền, gừng có vị cay, tính ấm, tác động vào 3 kinh phế, tỳ, vị. Gừng có tác dụng phát biểu, tán hàn ôn trung, tiêu đàm, hành thủy, giải độc. Trong hầu hết các thang thuốc Đông y, dù bệnh hàn hay nhiệt, hư hay thực, các thầy thuốc vẫn thường dùng từ 3 đến 5 lát gừng sống. Ngoài tác dụng hạn chế bớt tính lạnh của các vị thuốc hàn, cách phối hợp này còn giúp cho tỳ vị dễ hấp thu thuốc và người bệnh khỏi nôn ra đối với những thuốc khó uống.

Ngoài ra gừng có tác dụng làm nóng ấm, ra mồ hôi. Cây gừng giúp cho sự tiêu hóa, dùng trong những trường hợp kém ăn, ăn uống không tiêu, nôn mửa, say tàu xe, cảm mạo phong hàn, chữa ho mất tiếng.

3. Bộ phận dùng, chế biến của cây gừng:

Chủ yếu dùng thân rễ hay còn gọi là củ của cây gừng tươi hoặc khô.

Gừng sống còn gọi là Sinh khương: có chứa tinh dầu, thành phần trong dầu là Zingiberol, zingiberene, nonanalborneolchavicolcitralmethyheptenone. Nó có tính cay ấm, tác dụng phát tán phong hàn, chống nôn ói, tăng cường tuần hoàn huyết dịch, kích thích tiết dịch vị, hưng phấn ruột, xúc tiến tiêu hóa, chữa cảm lạnh, buồn nôn, ho do lạnh.

Mỗi lần dùng 4 - 10gr.

Gừng khô là củ gừng phơi khô còn gọi là can khương: có tính nóng hơn sinh khương, tính cay ấm, có thể làm ấm tỳ vị. Có tác dụng làm ấm dạ dày, thường dùng để trị tỳ vị hư hàn, trướng bụng đau bụng, thổ tả, ho do đàm lạnh.

Mỗi lần dùng 2 - 6gr.

Ổi khương: củ gừng đem lùi bên ngoài cháy đen nhưng bẻ ra thấy trong ruột còn màu nâu vàng và mùi gừng., Tính đắng ấm có tác dụng chỉ huyết (cầm máu) đường ruột.

 Mỗi lần dùng 2 -4gr.

Hắc khương: là gừng đốt cháy tồn tính. Hắc khương có vị đắng, thường được tẩm đồng tiện, có thể làm ấm can thận, giáng hư hỏa.

Khương bì: là vỏ củ gừng phơi khô, có tác dụng lợi tiểu. Vỏ củ gừng phơi khô, kết hợp bốn loại vỏ khác như trần bì (vỏ quít), phục linh bì (vỏ củ nấm thông),đại phúc bì (vỏ cau), ngũ gia bì (vỏ cây chân chim) phối thành thang ngũ bì ẩm nổi tiếng chuyên chữa phù thũng có thể dùng được cho cả phụ nữ có thai bị sưng hai chân.

Trong kỹ thuật bào chế, gừng cũng có thể giúp cho thầy thuốc đạt được một số mục đích quan trọng. Sinh địa nấu với gừng sẽ hạn chế bớt tính mát. Bán hạ chế với gừng để giải độc. Một số loại thuốc khác như sâm, đinh lăng...cũng thường được tẩm gừng, sao qua để tăng tính ấm và dẫn vào phế vị...

5. Một số bài thuốc có cây gừng

(1). Ngừa cảm lạnh sau khi phải dầm mưa nhiều giờ: gừng sống giã nát, bỏ vào 1 ly nước sôi hoặc trà nóng cho đường vừa đủ ngọt để dễ uống.

(2). Cảm lạnh phong hàn nhẹ (biểu hiện sợ lạnh, hắt hơi, sổ mũi, chảy nước mũi trong): 3-4 lát gừng tươi, thêm ít đường uống nóng, ngày uống 3- 4 lần. Sinh khương có tác dụng phát hãn nhẹ nên nếu mồ hôi ra ít thì phối hợp với ma hoàng, quế chi.

(3). Chữa đau bụng do lạnh: củ gừng 8g (nướng cháy vỏ) , riềng 12 g (sao vàng) , củ sả (sao vàng), búp ổi (sao vàng). Đổ 500 ml nước sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống ấm trong ngày.

(4). Chữa mất tiếng hoặc khan tiếng: củ cải trắng 2 củ, gừng sống 7 lát. Rửa sạch, giã nhuyễn vắt lấy nước cốt uống làm 2 hoặc 3 lần trong ngày.

(5). Chữa trúng gió, tê tay chân: gừng sống 40g, đồng tiện 80cc. Gừng sống giã nát, cho vào một ít nước sôi, vắt lấy nước, hòa với đồng tiện uống lúc đồng tiện còn ấm.

(6). Chữa buồn nôn trong thời kỳ có thai: Sinh khương là vị thuốc chủ yếu trong điều trị chứng nôn do vị hàn hoặc cho phụ nữ có thai. Gừng tươi 20g, giã nát hoặc khoảng 8g bột gừng khô. Bỏ gừng vào một ly nước sôi hoặc nước trà nóng, có thể thêm một chút đường cho dễ uống. Nếu do vị nhiệt gây nôn có thể dùng kèm bán hạ chế; hoàng liên.

(7). Giải độc: Sinh khương, tử tô giúp giải độc, dị ứng cua. Sinh khương giảm độc tính của bán hạ, hậu phác.

(8). Hoá đờm, chỉ khái: gừng, đường (lượng bằng 1/2 gừng) đun nước sắc uống từ từ ít một, gừng có tác dụng ôn phế hoá đờm, chỉ khái, đường có tác dụng nhuận phế. Dùng cho trường hợp ho có đờm lâu ngày do hư hàn.

(9). Làm cho ra mồ hôi: 30g tử tô, 9g sinh khương: nấu nước uống tác dụng ra mồ hôi, tán hàn.

(10). Trị gàu, rụng tóc: thường xuyên gội đầu có pha chút gừng có tác dụng trừ gàu, giảm rụng tóc.

(11). Khử mùi hôi, tanh: xát vài lát gừng vài lần vào nách, bàn chân làm giảm mùi hôi nách, hôi chân. Khử mùi tanh, hôi của thức ăn như khi làm thịt ngan, vịt , cá: xát gừng vào làm giảm mùi tanh, hôi.

(12). Giải rượu: nước gừng làm giảm triệu chứng đau đầu, váng đầu do rượu.

(13). Chữa đầy bụng, chậm tiêu, buồn nôn: gừng, hồng táo đun nước uống ngày 2 lần có tác dụng khai vị.

(14). Chữa chứng vị nhiệt: miệng hôi, răng lợi sưng đau, loét, ngứa đau họng: đun nước gừng uống các triệu chứng dần sẽ đỡ.

(15). Chữa chứng mất ngủ:Không chỉ là gia vị, gừng còn được biết đến như một vị thuốc quý chữa bệnh mất ngủ kinh niên vô cùng hiệu quả.Có nhiều nguyên nhân gây mất ngủ, có thể chỉ là những lo âu hay căng thẳng nào đó trong đời sống hàng ngày chưa được giải quyết ổn thỏa; những hành vi cá nhân như hút thuốc lá, uống cà phê nhiều, thay đổi múi giờ khi đi xa, làm việc ca đêm, ăn quá nhiều quá no trong đêm; hoặc những bệnh lý thực thể đều có thể gây mất ngủ.

Theo y dược học hiện đại, gừng có tinh dầu 2% - 3%, chất nhựa 5%, chất béo 3% tinh bột và các chất cay như zingeron, shogaola. Gừng và tinh dầu chiết xuất từ gừng cón có tác dụng chữa chứng mất ngủ kinh niên.

Cách làm:

Cách 1:Cho 1 củ gừng vào nước lạnh (khoảng 500ml, cho 1 lần uống) đun sôi, sau khi nước sôi cho đường phên vào (lượng vừa đủ cho lượng nước 500ml), tiếp tục đun nhỏ lửa khoảng 15 phút là được. Uống vào buổi trưa hoặc buổi chiều để có tác dụng vào lúc đi ngủ.

Cách 2: Giã nát 1 củ gừng hòa vào 500ml nước ấm, cho thêm chút muối và khuấy đều. Uống vào buổi trưa hoặc buổi chiều để có tác dụng vào lúc đi ngủ.

Cần nhớ là:Ngày nào uống thì chế biến ngày ấy cho tươi mới là tốt nhất. Người bình thường muốn ngủ ngon đều có thể uống. Thời gian đầu khi mất ngủ trầm trọng, có thể uống khoảng 1 lít nước đường gừng hoặc muối gừng. Sau 1 thời gian khi bệnh đã chuyển, có thể giảm xuống uống 500ml rồi dần dần duy trì cách ngày uống 1 lần 500ml.Nếu có điều kiện, bạn có thể ngâm chân bằng nước gừng nóng hay muối nóng trước khi đi ngủ để có được giấc ngủ sâu và ngon.

(16).Chống viêm: Gừng còn có tác dụng chống viêm. Thực tế, nhiều loại thuốc chống viêm thường gây ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa. Trong khi đó, ăn gừng lại có tác dụng chống viêm, ngăn ngừa loét hiệu quả.
Vì gừng chống viêm rất tốt, nên rất nhiều loại thuốc viêm khớp có chứa thân rễ gừng khô. Một nghiên cứu cho thấy phần lớn người tham gia dùng gừng để trị viêm khớp đã giảm đau và sưng rõ rệt.
(17).Giảm đau đầu: Nhai một miếng gừng tươi khoảng 30 phút được cho giúp giảm chứng đau đầu và đau nửa đầu.
(18).Giảm cholesterol: Gừng có tác dụng giảm lượng cholesterol. Một nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh nhân sử dụng gừng thường xuyên trong một thời gian có thể giảm rõ rệt nồng độ cholesterol.
(19).Kiểm soát tiểu đường: Các chuyên gia y tế yêu cầu bệnh nhân tiểu đường uống trà gừng vào buổi sáng sớm vì nó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.
(20).Chống stress: Tinh dầu gừng giúp giải tỏa tinh thần, loại bỏ các trạng thái căng thẳng... chóng mặt, bồn chồn và lo lắng.
(21).Chống say xe, ốm nghén: Ăn gừng tươi trước khi đi xe, máy bay... có thể giúp ngăn ngừa các triệu chứng say tàu xe.
Nghiên cứu đã chứng minh rằng rễ gừng và tinh dầu cũng có hiệu quả chống buồn nôn, say tàu xe và nôn mửa. Trong một số trường hợp còn có thể sử dụng để giảm tình trạng nôn mửa ở phụ nữ mang thai.

(21).Ngộ độc thực phẩm: Gừng có tính sát trùng nên có thể dùng trong điều trị ngộ độc thực phẩm. Ngoài ra còn có thể điều trị nhiễm trùng đường ruột và kiết lỵ do vi khuẩn.
(22).Trị rối loạn dạ dày: Củ gừng và tinh dầu gừng thường được sử dụng trong các trường hợp rối loạn dạ dày. Đây là một trong các biện pháp khắc phục tốt nhất cho chứng khó tiêu, đau bụng, co giật, tiêu chảy, đầy hơi và các vấn đề khác liên quan đến đường ruột. Trà gừng cũng được sử dụng để giảm bớt một số triệu chứng dạ dày và tăng cảm giác thèm ăn.
(23).Kiểm soát tim mạch: Nhiều bác sĩ đông y cho rằng gừng có thể giúp ngăn ngừa bệnh và giúp tim mạch khỏe hơn, giúp giảm nguy cơ tắc nghẽn mạch máu và giảm tỷ lệ đột quỵ do tim.
(24).Rối loạn hô hấp: Do củ gừng và tinh dầu gừng tốt cho tiêu đờm, nó cũng có hiệu quả trong các vấn đề khác nhau về đường hô hấp như ho, cảm cúm, viêm phế quản, hen suyễn và khó thở.
(25).Kinh nguyệt: Gừng giúp hỗ trợ giảm đau, điều trị ra kinh nguyệt không đều.
(26).Bệnh sốt rét: Củ gừng và tinh dầu gừng cũng có hiệu quả trong điều trị bệnh sốt rét và sốt vàng da.
(27).Ung thư: Gừng còn được biết đến với công dụng chống ung thư. Do vậy bạn nên bổ sung gừng vào chế độ ăn hàng ngày của mình dưới dạng viên nang hay trà gừng hoặc sử dụng như một loại gia vị trong nấu nướng. 

Lưu ý khi sử dụng gừng:

Gừng khó bảo quản, của gừng làm thực phẩm thì thường thu hoạch non, nhưng nếu để làm thuốc thì phải thu hoạch củ gừng già (có xơ).

1.Không nên gọt vỏ: Nhiều người gọt vỏ khi ăn gừng mà không biết rằng vỏ gừng cũng có rất nhiều công dụng chữa bệnh. Vì vậy khi ăn gừng nên rửa sạch sau đó sử dụng theo mục đích.

2.Không nên ăn gừng trong thời gian dài: Những người mắc những bệnh dưới đây không nên ăn gừng liên tục: âm hư hỏa vượng, nhiệt trong, mắc các bệnh mụn nhọt, viêm phổi, phù thũng phổi, hạch phổi, viêm dạ dày, viêm gan, viêm thận, bệnh tiểu đường…

3.Không dùng gừng cho người say nắng: Khi bị cảm lạnh uống nước gừng sẽ rất hiệu quả.Tuy nhiên, trái lại đối với những trường hợp cảm mạo thử nhiệt, cảm mạo phong nhiệt hoặc bị trúng nắng tuyệt đối không cho dùng gừng.

4.Không nên ăn gừng tươi đã bị dập: Chắc chắn nhiều người không biết rằng củ gừng tươi sau khi bị dập sẽ sinh ra một loại độc tố mạnh có thể gây hoại tử các tế bào gan, lâu dần sẽ biến thành ung thư gan, ung thư thực quản.

5.Không nên ăn nhiều gừng: Mặc dù gừng có nhiều tác dụng nhưng không nên quá lạm dụng.gừng có tính tân ôn nên không hợp dùng lượng nhiều, dùng dài ngày nhất là mùa thu vì nó có thể tổn thương phế khí. Không dùng gừng liều cao, nhiều ngày cho người tiểu đường, bệnh tim, phụ nữ có thai.

6.Không dùng gừng khi đã ra nhiều mồ hôi , thang thuốc có gừng không sắc quá 15 phút.

7.Tránh dùng gừng với aspirin và coumarin (phải cách xa 4 giờ).

8.Không dùng gừng cho người chuẩn bị mổ và sau mổ, người đang chảy máu như băng huyết, ho ra máu, nôn ra máu, tiểu ra máu, tiêu ra máu, trĩ ra máu, chảy máu cam, chảy máu răng.

Cay gung 2

6.Kỹ thuật trồng cây gừng

6.1.Chọn đất và địa điểm trồng gừng

Bộ phận chính thu hoạch là củ gừng (thân ngầm) nằm ở dưới đất, muốn củ gừng phát triển tốt, đất cần tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước tốt, vì vậy đất để trồng gừng thường là đất vườn, đất có vị trí cao được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ, phơi ải càng tốt. Đất có thành phần cơ giới nhẹ là tôta nhất. Gừng thích hợp ở các vùng nhiệt đới.

Để có được củ nhiều, củ to, gừng cần được trồng ở chỗ có lớp đất mặt dày. Do đó, trong nhiều trường hợp trồng gừng là phải lên luống cao 20 - 25 cm, rộng 1,2 - 1,5 m.

Đất thích hợp để trồng gừng phải là đất tốt vì cây có nhu cầu dinh dưỡng tương đối cao (đặc biệt là đạm, sau đó là kali và lân), có pH = 5,5 -6, tầng canh tác dày 20 -40 cm, không bị ngập úng và tơi xốp, nhiều mùn (dùng dao nhọn đâm xuống đất, nếu đâm sâu dễ dàng qua lớp đất mặt là đất tơi xốp; sau đó rút lên, nếu thấy đất có màu sẫm hoặc xám đen bám vào má dao là đất giàu hạt sét, giàu mùn và đủ ẩm).

Gừng là loài ưa sáng nhưng có khả năng chịu rợp nên thường được bố trí trồng xen. Tuy nhiên, dưới tán che 70 -80% thì cây chỉ cho năng suất bằng ½ so với nơi nắng trảng (trên cùng 1 loại đất).

6.2.Bón phân lót

Thường để đất xốp, đủ ẩm, người ta bón lót 20 - 30 tấn phân chuồng, 300 -500 kg super lân hay phân lân nung chảy, 500 - 1000 kg tro bếp, trộn đều rồi lên luống. Để tiết kiệm phân, thường lên luống rồi rạch hàng, bón phân, trộn đều, lấp 1 lớp đất mặt sau đó trồng gừng lên rãnh đã bón phân.

6.3.Chọn giống

Các giống được trồng nhiều hiện nay là gừng Trâu hay gừng Dé (giống địa phương), gừng Lai (Tiền Giang), gừng Tàu (nhập nội) và đặc biệt là giống gừng Nồi (trồng nhiều ở Long An) được đánh giá là có triển vọng (giống đã được Trung tâm ƯDTB KH&CN An Giang trồng khảo nghiệm tại xã Hội An -huyện Chợ Mới năm 2005; năng suất cao gấp đôi giống gừng Lai ở thời điểm sau 4 tháng trồng, ít nhiễm bệnh thối củ và cháy lá).

Chuẩn bị giống: gừng giống có thể lấy ngay sau khi thu hoạch hoặc sau khi được bảo quản trong một thời gian ngắn, với lượng cần chuẩn bị là 300 kg/1.000 m2 đất trảng nắng. Chọn củ gừng già (gừng cựu, phần thân chính của dánh gừng hoặc gừng từ đủ 9 tháng tuổi trở lên), bẻ hoặc cắt các đoạn củ (ánh) dài 2,5 -5 cm, trên mỗi ánh phải có ít nhất 1 mắt mầm (chồi ngủ). Giống cần được xử lí với các loại thuốc gốc đồng, Score, Phatox, Validacine,..để phòng và diệt nấm bệnh. Sau đó tiến hành trồng ngay để đảm bảo khả năng nảy mầm; hoặc có thể ủ giống cho lên chồi rồi mới trồng, cách này sẽ tiết kiệm công trồng dặm về sau.

6.4.Thời vụ

Ở miền Nam, vụ chính trồng gừng là vào đầu mùa mưa (tháng 4 -5 hàng năm); trong khi, ở miền Bắc là vào mùa Xuân (có mưa phùn và ẩm độ không khí khá cao).

6.5.Trồng gừng

Gừng được trồng bằng củ, ta chọn các củ gừng có nhiều mầm, bẻ từng nhánh gừng riêng, mỗi nhánh có chứa 3 - 5 mắt gừng. Chấm phần bẻ hoặc cắt vào tro bếp, đem gừng trồng vào rãnh đã bón đủ phân, lấp kín đất lại, dùng tay nén lớp đất bột trên mặt, chú ý không lấp đất sâu, chỉ cần phủ kín củ gừng là được. Sau đó dùng rơm rạ phủ lên luống, có thể trấu, lá khô ... rồi tưới nước cho đủ ẩm. Nếu nhiệt độ ấm thì sau 5 - 7 ngày gừng đã đâm chồi, ngoi lên mặt đất. Nếu phần rơm rạ phủ quá dày, ta nên dẹp bớt để cây gừng mọc cho dễ. Sau khoảng 1 tháng, lớp rơm rạ phủ sẽ mục dần tạo thành 1 tầng xốp cho đất, giữ ẩm cho gừng. Khoảng 1 tháng sau trồng, ta bón thúc thêm tro bếp hoặc kali, một ít phân đạm (nhìn cây mà bón) rồi vun gốc, tưới đủ ẩm. Gừng ít bị sâu hại nhưng có lúc bị bệnh cháy lá thối củ. Tốt nhất là theo dõi thường xuyên để ngắt lá, nhổ bỏ cây bị bệnh, tránh phun thuốc nhiều.

Mật độ và kỹ thuật trồng:

Trên mỗi luống trồng thành 2 hàng so le nhau (kiểu nanh sấu), với hàng cách hàng 40 -50 cm và cây cách cây 30 -40 cm (đất xấu trồng dày, đất tốt trồng thưa). Đặt giống (đã chuẩn bị trước) sâu 5 -7 cm, mắt mầm/chồi hướng lên hoặc hướng ngang (có nhiều mắt mầm/chồi), lấy đất mịn phủ lên rồi ấn chặt tay để đất tiếp xúc tốt với củ, sau đó phủ đất mịn cho bằng mặt luống.

Đối với phương pháp trồng trong túi/bầu thì trồng với mật độ thưa hơn vì cây được chăm sóc dễ dàng hơn.

6.6.Chăm sóc

Nếu trồng bằng ánh chưa nảy mầm thì sau 15 -20 ngày, củ sẽ bắt đầu đâm chồi và xuất hiện lá non.

Tưới nước: Cần cung cấp đủ nước trong suốt quá trình sống cho cây theo nguyên tắc chung: gừng là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng nước.

Tuy nhiên, trong quá trình trị bệnh (đặc biệt là bệnh thối củ) ở một số thời điểm nhất định thì việc cắt giảm nước tưới để hạn chế sự lây lan của dịch hại là cần thiết. 

Làm cỏ, vun gốc: Tiến hành phun trừ hoặc làm cỏ dại bằng tay vào giai đoạn 25 -30 ngày sau khi trồng (NST), kết hợp với bón thúc đợt 1 và xới xáo, vun gốc cho cây. Trong các tháng sau, khi thấy cỏ dại mọc lấn át cây gừng thì phải làm sạch và tủ lại quanh gốc.

Mặt khác, cần bảo quản tốt diện tích canh tác, không để các con vật cắn phá, dẫm đạp lên cây. Không để củ lộ khỏi mặt đất để đảm bảo phẩm chất và giá trị thương phẩm của gừng.

Bón phân bổ xung: Tuỳ thuộc vào thổ nhưỡng, thực trạng của cây và mục đích sử dụng, lưọng phân cần cho 1 ha: Bón thúc 100 -120 kg Urea + 150 -170 kg Super lân + 200 -220 kg Kali vào các thời điểm 25 -30, 90 -100 và 150 -160 NST.

Chú ý: ngoài các thời điểm bón phân nêu trên, nếu thấy lá gừng bị vàng do thiếu đạm thì có thể tiến hành bón qua lá bằng cách phun với lượng 10g Urea/bình 10 lít nước.

6.7.Phòng trừ sâu bệnh

Một số sâu bệnh phổ biến thường gặp trên gừng cần được phòng trừ:

Sâu hại: Sâu đục thân thường xuất hiện vào đầu mùa mưa. Sâu đục vào bên trong và ăn phần non, nếu bộc phát mạnh sẽ làm giảm đáng kể năng suất gừng.

Phòng trị: Sử dụng các loại thuốc trừ sâu có tính lưu dẫn như: Basudin, Regent, Furadan, Kinalux,…Chú ý: Khi thấy bướm sâu đục thân xuất hiện hoặc sâu ở tuổi 1 -2 thì tiến hành phun thuốc diệt ngay, nếu chậm trễ, khó phòng trị kịp thời.

Bệnh hại:

Bệnh cháy lá: Bệnh do nấm Fusarium gây nên, thường vết bệnh xuất hiện trên chóp lá và cháy từ chóp vào hoặc có những vết cháy hình tròn hoặc bầu dục trên lá. Nếu bệnh phát triển mạnh, nấm tấn công vào nách lá, xuống củ làm chết cả cây.

Phòng trị: Sử dụng các loại thuốc Appencard, Bavistin, Carbenzim, Score,..

Bệnh thối củ: gồm bệnh thối xanh và thối vàng

Thối xanh: Bệnh do vi khuẩn lưu tồn trong đất, nước, củ và thân cây gừng bị bệnh gây và lây lan rất nhanh qua vết thương do cơ học hoặc côn trùng gây ra. Gừng đang xanh bỗng héo đột ngột vào giữa trưa, có tươi lại vào lúc chiều mát và chết rất nhanh; thân bị nhũn nước, tách rời củ và có màu sậm; khi nhổ lên, đỉnh sinh trưởng có nước màu đục và có mùi hôi đặc trưng.

Phòng trừ: do đặc điểm bệnh rất khó trị, lây lan nhanh nên và gây tổn thất lớn nên phòng bệnh là vấn đề cần thiết và bắt buộc. Cần tiến hành thực hiện các biện pháp sau:

Ngay sau thu hoạch vụ trước (đối với đất trồng chuyên) hoặc trước khi tiến hành xuống giống, cần vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy thân cây dư thừa (nguồn lưu tồn bệnh);

Tránh để cây bệnh gần hoặc vứt xuống nguồn nưới tưới để tránh lây lan, bố trí canh tác ở chân đất không bị ngập úng;

Bón lót phân hữu cơ, chế phẩm sinh học Tricô (trong chế phẩm vi sinh Tricô có chứa nấm Trichoderma, khi xử lý thuốc để phòng bệnh cho cây trồng thì nấm này cần thời gian để thích hợp với môi trường trong đất và nhân mật số lên nhiều hơn thì sau đó mới có tác dụng đối kháng với mầm bệnh trong đất);

Bón lót vôi với liều lượng 50 -100 kg/1.000 m2 để xử lí đất;

Xử lí giống bằng các loại thuốc gốc đồng, Score, Phatox với liều lượng thích hợp để diệt mầm bệnh;

Khi thấy gừng có triệu chứng xoắn lá thì tiến hành phun các loại thuốc Kasuran, Kasumin, Starner,..kết hợp với một số thuốc đặc trị các loại rầy mềm, rệp sáp tấn công như Diazan, Supracide,.. 

Luân canh cây trồng hợp lý để cắt nguồn bệnh lưu tồn.

Thối vàng: Bệnh do nấm Fusarium tấn công vào củ, xuất hiện trong điều kiện ẩm ướt kéo dài. Bệnh có triệu chứng vàng lá, sau đó rụng và chết tương đối chậm; trên củ có vết màu nâu, phần củ nhăn nheo và tốp lại có phủ lớp tơ màu trắng.

Phòng trị: Xử lí đất và giống trước khi trồng, sử dụng các loại thuốc Appencard, Carban, Carbenzim, Ridomyl, Score,..

6.8.Thu hoạch, bảo quản

Tuỳ vào mục đích sử dụng, có thể thu hoạch gừng từ 4 tháng trồng trở đi. Gừng để làm giống thì phải thu hoạch sau 9 tháng. Gừng trồng được 3 - 4 tháng có thể tỉa lá ăn hoặc làm thuốc. Sau trồng 5 - 6 tháng, hoặc 7 - 8 tháng nếu khí hậu mát, có thể thu hoạch củ để bán. Chăm sóc tốt có thể cho thu hoạch khá: 8 - 10 tấn/ha.

Nhìn cây gừng, nếu toàn ruộng có lá vàng, lá già bị khô mép đến chót lá, ta đào thử thấy củ gừng phát triển nhô lên gần đất, màu củ xám, da củ dày là thu hoạch được. Nếu diện tích ít, đất nhẹ có thể dùng cuốc, xẻng bới lên, rũ lấy củ. Nếu diện tích nhiều có thể dùng bò cày dọc theo hàng gừng, rồi rũ lấy củ gừng. Cẩn thận dùng cuốc để thu hoạch gừng để tránh làm xây xác củ (làm giảm giá trị thương phẩm và khó bảo quản); sau đó nhổ cả bụi, rũ sạch đất, cắt thân bỏ đi để làm phân, chất thành khóm và tiến hành cắt lấy củ mang về để nhẹ nhàng và rải đều nơi mát.

Nếu để giống, cần chọn các củ trung bình, bóng láng, không bị xây xát, đem để lên lớp cát khô trong mát hay để lên sàng, nia đặt nơi thông gió để trồng cho vụ sau. Các củ giống được đặt vào thùng, chậu hoặc trải đều trên sàn nhà, ở dưới và trên mỗi lớp củ được phủ bằng một lớp đất mịn, khô, dày 1 -2 cm. Số lượng chồi nằm ở củ gừng không nhiều và là nguồn để nhân giống chủ yếu hiện nay.

Gừng cần được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát (tương tự như bảo quản các loại cây thân củ và rễ củ khác). Trong qúa trình tồn trữ và bảo quản, có thể sử dụng một số hoá chất đặc hiệu để phòng ngừa côn trùng cắn phá.

Đỗ Văn Phú

Nguồn: Wikipedia, Phụ nữ, khoa học phổ thông,

 Nông nghiệp, Sức khỏe và Đời sống, SGGP...



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng