Phản biện Dự thảo Đề cương chính sách hỗ trợ, phát triển HTX nông nghiệp

Ngày 19/9, Ủy ban MTTQVN tỉnh Sóc Trăng tổ chức Hội nghị Phản biện xã hội dự thảo tờ trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết quy định một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến năm 2025.

20180919 081620-bis

Ông Mai Thanh Tùng, Phó Chủ tịch MTTQVn tỉnh phát biểu khai mạc Hội nghị

Tham dự Hội nghị có đại các cơ quan liên quan như Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật, Liên minh Hợp tác xã, Liên đoàn Lao động tỉnh, Tỉnh đoàn, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, các hội đồng tư vấn thuộc Ủy ban MTTQ tỉnh, Hợp tác xã Artemia Vĩnh Châu. Ông Mai Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh chủ trì Hội nghị.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Mai Thanh Tùng cho biết MTTQ thực hiện chức năng phản biện và giám định xã hội theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Hôm nay, lần đầu tiên MTTQ tỉnh tổ chức hội nghị phản biện xã hội dự thảo tờ trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết quy định một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến năm 2025. Đề nghị các đại biểu tham dự tập trung phân tích, đưa ra những cơ sở khoa học, luận cứ thật tiễn để đánh giá, phản biện, góp ý dự thảo trước khi trình HĐND tỉnh quyết định.

20180919 081603-bis

Toàn cảnh Hội nghị

Tại Hội thảo, các đại biểu đều nhất trí sự cần thiết ban hành quy định chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển hợp tác xã nông nghiệp (HTX) trên địa bàn tình. Phát triển các hình thức hợp tác sản xuất, trong đó có mô hình Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012 là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Việc phát triển mô hình hợp tác xã nông nghiệp hiện nay là rất cần thiết nhằm giúp nông dân thay đổi tư duy sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, sản phẩm nông nghiệp chất lượng thấp, không đồng đều, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

Dự thảo Đề cương chính sách hỗ trợ, phát triển HTX nông nghiệpđánh giá khá chi tiết, đầy đủ về thực trạng phát triển HTX trên địa bàn tỉnh thời gian qua, những hạn chế, yếu kém cũng như những trở ngại mà các HTX đang gặp phải như: sản xuất quy mô nhỏ, không đảm bảo chất lượng, hoặc chất lượng không đồng đều, chưa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; năng lực quản lý, điều hành của hội đồng quản trị hạn chế; nguồn vốn yếu, khả năng huy động vốn, nhất là nguồn vốn ngân hàng hạn chế (vì không có tài sản thế chấp).

Tuy nhiên, trong phần đánh giá hiện trạng: chưa thể hiện số liệu HTX trên địa bàn tỉnh như số lượng, ngành nghề hoạt động, qui mô và kết quả hoạt động ra sao. Đây là cơ sở quan trọng để đưa ra chính sách. Về số lượng, qui mô hoạt động: là cơ sở để đánh giá, so sánh về lượng sau khi thực hiện chính sách. Về ngành nghề hoạt động để có cơ sở định hướng hỗ trợ; những ngành nghề mà tỉnh có thế mạnh để khuyến khích phát triển (tỉnh có nhiều ngành nghề nông nghiệp như nuôi trồng, đánh bắt, diêm nghiệp, lâm nghiệp, trồng trọt, chế biến nông sản… vậy thì trong điều kiện nguồn lực có hạn của tỉnh, nên ưu tiên hỗ trợ cái nào trước, cái nào sau….); dựa vào ngành nghề đó để có định hướng hỗ trợ công nghệ, hệ thống quản lý chất lượng; hỗ trợ về liên kết chuỗi sản xuất, về tiêu thụ sản phẩm….

Đề xuất, kiến nghị các nội dung và giải pháp hỗ trợ

Việc xây dựng và ban hành chính sách hỗ trợ, phát triển HTX nông nghiệp phải tháo gỡ những khó khăn hiện tại mà các HTX gặp phải như đã trình bày nêu trên; đồng thời chính sách phải cụ thể, phù hợp thực tiễn hoạt động HTX và phù hợp với khả năng ngân sách của địa phương. Củng cố, nâng cao năng lực hoạt động HTX là chủ yếu, không nên đặt nặng chỉ tiêu về phát triển số lượng HTX.

Các giải pháp thực hiện chính sách phải mang tính toàn diện, cụ thể để thúc đẩy phát triển HTX nông nghiệp theo như chủ trương của Đảng và Nhà nước, đưa chính sách đi vào thực tiện cuộc sống. Theo đó, Hội nghị thảo luận và kiến nghị nhiều vấn đề. Một là, bổ sung giải pháp đầu tiên là giải pháp thông tin, tuyên tuyền về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển HTX; về xây dựng HTX theo Luật HTX (để người dân phân biệt HTX hôm nay khác với HTX xa xưa, tránh tâm lý lo ngại tham gia HTX theo kiểu cũ); Thông tin, giới thiệu về những mô hình HTX làm ăn có hiệu quả ở trong và ngoài tỉnh; Thông tin về chính sách hỗ trợ phát triển HTX của tỉnh; Cơ quan thông tin, tuyên truyền: báo, đài, trang tin và bản tin của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngành khoa học và công nghệ, công thương, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ.

Hai là, về hỗ trợ thành lập mới HTX. Cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu giao cho cơ quan nào đó như Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hay Liên minh HTX thực hiện hoạt động tư vấn, với các nội dung như tư vấn thủ tục thành lập HTX; xây dựng điều lệ HTX; tổ chức tập huấn hàng năm về luật và các văn bản quy phạm điều chỉnh hoạt động HTX; đặc biệt là trang bị cho hội đồng quản trị kiến thức, kỹ năng về quản trị HTX; tổ chức giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm các tỉnh bạn nơi có HTX phát triển mạnh. Điều này giúp tháo gở hạn chế, khó khăn ban đầu của HTX mà dự thảo có đề cập đó là “năng lực quản lý, điều hành của Hội đồng quản trị hạn chế” cũng như làm sáng tỏ nhận thức của người nông dân về ngại tham gia HTX. Không nên hỗ trợ trực tiếp kinh phí, nhất là khi HTX chưa thành lập thì giao tiền cho ai, cuối cùng họ không thành lập HTX thì thanh quyết toán thế nào.

Ba là, về chính sách hỗ trợ vật chất ban đầu cho HTX như bàn, ghế, điều kiện làm việc khác... Đề nghị xem lại nội dung này. Để HTX thành lập, ăn nên, làm ra thì vấn đề là ở chổ khác. Đó là vấn đề sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm, đây mới là vấn đề sống còn của HTX.

Bốn là, về chính sách hỗ trợ xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm

Chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp đề cập đến toàn bộ chuỗi hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho sản phẩm nông nghiệp để di chuyển từ nông trại đến khách hàng cuối cùng hay khách hàng đơn thuần, bao gồm tất cả nguyên liệu đầu vào cho đến đầu ra tức là khâu tiêu thụ sản phẩm. Ví dụ, chuỗi giá trị con tôm thẻ, bao gồm khâu sản xuất con giống, thức ăn, thuốc dùng trong thủy sản, người nuôi, thương lái, nhà chế biến xuất khẩu. Theo dự thảo thì chúng ta hỗ trợ khi HTX có những hợp đồng liên kết mà chủ yếu là từ khâu sản xuất đến tiêu thụ nông sản (một giai đoạn của chuỗi), ưu tiên những HTX ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất gắn với chuỗi giá trị sản phẩm. Khái niệm này chưa rõ nghĩa dể dẫn đến việc triển khai khó thực hiện, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau.

Thực tế hoạt động của HTX cho thấy, khi khách hàng đến nhìn thấy sản phẩm và khi tham quan nhìn thấy công nghệ, máy móc thiết bị đảm bảo thì họ mới đặt hàng sản xuất. Không thể có chuyện HTX chưa có sản phẩm, chưa có công nghệ, máy móc mà khách mua đặt mua sản phẩm, ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm để rồi từ hợp đồng đó ta tiến hành hỗ trợ, đây là quy trình ngược.

Như vậy, khi HTX muốn sản xuất một sản phẩm nào đó thì: một là, đầu tư nhà xưởng, thiết bị máy móc để nâng cao nâng suất, chất lượng, quy mô sản xuất trên cơ sở kỹ thuật/công nghệ đã có; hai là đầu tư chuyển giao công nghệ mới, ứng dựng tiến bộ kỹ thuật mới, hay xây dựng chứng nhận quy trình sản xuất tiên tiến như VietGAP để quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm,…Tiếp theo, khi HTX phát triển mạnh, họ muốn xây dựng thương hiệu, bảo hộ nhãn hiệu trong và ngoài nước.

Nhìn vào thực tế này, thì chúng ta có chính sách hỗ trợ ở các khâu: Hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng, qui mô sản xuất bao gồm nhà xưởng, thiết bị, máy móc - như chính sách khuyến công lâu nay vẫn làm; Hỗ trợ dự án chuyển giao công nghệ; chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới; xây dựng chứng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; bảo hộ nhãn hiệu trong nước và quốc tế. Các loại hình hỗ trợ này hiện do Sở Khao học và Công nghệ đang triển khai. Ví dụ, như HTX hành tím Vĩnh Châu, lâu nay ngành KH&CN vẫn luôn hỗ trợ HTX từ khâu trồng, bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiện.

Năm là, về chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng. Trong chính sách này thì có những phần như hỗ trợ đầu nhà xưởng, nhà kho, sân phơi, công trình phụ trợ bên trong nhà máy như phần trên có đề cập, đó là “Hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng, phát triển sản phẩm mới và xúc tiến thương mại”. Các hạng mục khác như công trình thủy lợi, hệ thống thoát nước nên đầu bên ngoài hàng rào HTX, kết hợp đầu tư cho vùng sản xuất trong các dự án, chương trình khác. Đối với công trình xử lý môi trường thì kết hợp với nguồn vốn sự nghiệp môi trường.

Sáu là, hỗ trợ HTX, liên hiệp HTX được hưởng các hình thức hỗ trợ theo Nghị định 57/2018/NĐ. Về nội dung hỗ trợ thì thống nhất. Tuy nhiên, để không bị hiểu nhầm là hoạt động hỗ trợ của tỉnh trái với quy định của Chính phủ, đề nghị liệt kê các nội dung hỗ trợ trên cơ sở của Nghị định 57/2018/NĐ-CP.

Bảy là, đề nghị bổ sung giải pháp thứ 6. Chính sách tín dụng. Thực tế cho thấy, đây là khó khăn rất cơ bản của HTX về nguồn vốn hạn hẹp, khả năng huy động vốn vay từ ngân hàng thấp (do không có tài sản thế chấp) đã đề cập nêu trên. Tại tỉnh, có Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tỉnh Sóc Trăng (ban hành theo Quyết định số 230/QĐ-UBND ngày 16/12/2013 của UBND tỉnh Sóc Trăng).

Tám là, đề nghị bổ sung giải pháp thứ 7. Hỗ trợ xúc tiến thương mại. Hỗ trợ HTX xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm. Các hình thức như: giới thiệu sản phẩm hàng hóa trên các kênh truyền thông (báo, đài); tham gia trưng bày sản phẩm, hàng hóa tại các hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước. Các loại hìn hỗ trợ này do Trung tâm xúc tiến thương mại thuộc Sở Công Thương thực hiện.

Chín là, về nguồn lực và điều kiện đảm bảo thi hành. Ngoài vốn đầu tư phát triển, nguồn sự nghiệp kinh tế. Cần tích hợp vào chính sách các nguồn vốn khác. Thí dụ: Vốn sự nghiệp KH&CN: Hỗ trợ chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt, đánh bắt, chế biến,…); xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (VietGAP, Quản lý môi trường, đảm bảo ATVSTP…); xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu; Vốn sự nghiệp khuyến công thuộc Sở Công thương quản lý hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; mở rộng quy mô sản xuất; Vốn từ Dự án hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ; Vốn tín dụng.

Về giám sát: đề nghị bổ sung thêm cơ quan giám sát theo chức năng đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành. Ví dụ: MTTQ thì có Quyết định 217, 218 của Bộ Chính trị; Liên hiệp các Hội KH&KT thi có Quyết định 14/2014/QĐ-TTg ngày 14/02/2014 của Thủ tưởng Chính phủ về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam.

Tóm lại, chính sách hỗ trợ, phát triển HTX nông nghiệp không đứng riêng rẽ mà có nhiều chính sách khác đan xen, đang được triển khai có liên quan đến HTX nông nghiệp. Đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu lồng ghép các chính sách này trong dự thảo cũng như trong quá trình triển khai thực hiện./.

TMT



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng