Sửa Luật Phòng, chống tham nhũng: Từ chuyện đánh thuế hay tịch thu tài sản...

Ai cũng biết chống tham nhũng sẽ không đi vào thực chất nếu không thu hồi được tài sản bị chiếm đoạt. Đó là lý do mà dự thảo sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng đưa ra biện pháp đánh thuế cao tới 45% hay tịch thu các tài sản không giải trình được nguồn gốc trong quá trình kê khai tài sản của cán bộ nhà nước.

Từ những bức xúc do nạn tham nhũng trầm trọng, phía người dân đương nhiên dễ đồng tình với phương án tịch thu tài sản. Tuy nhiên, để mỗi giải pháp được luật hóa sẽ có tính thực thi hơn là những ý định tốt đẹp, câu hỏi đặt ra là liệu rằng việc sửa đổi một luật đơn lẻ có gây tổn hại đến toàn bộ hệ thống pháp quyền đang được xây dựng hay không. Mặt khác, đó đã phải là hướng đi đúng về căn bản hay chưa nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về phòng, chống tham nhũng?

Đánh thuế lên tài sản cá nhân có ý nghĩa gì?

Việc đánh thuế luôn luôn phải bảo đảm các nguyên lý chung như: có mục tiêu rõ ràng, công bằng và hợp lý. Thuế thu nhập hiện nay nhằm vào mọi cá nhân có thu nhập cao, bao gồm cả đối tượng công chức, viên chức; và được đánh trên cơ sở quyết toán thu nhập hàng năm tính từ thời điểm Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực. Trong khi đó, tài sản bằng tiền hay hiện vật của cán bộ nhà nước, dù có hay không kê khai, có thể được hình thành từ nhiều thời điểm khác nhau trong quá khứ trước khi áp dụng chế độ kê khai đối với họ. Còn luật đánh thuế tài sản đang trong quá trình bàn thảo, nếu được xây dựng thành luật thì sẽ có mục tiêu riêng nên khó có thể lồng ghép thêm nhiệm vụ “phòng, chống tham nhũng” được.

Ngoài ra, từ góc độ Luật Thuế thu nhập cá nhân, nếu được thực thi nghiêm chỉnh trên thực tế, chắc chắn đã góp phần thu hồi đáng kể cho ngân sách một phần tài sản mà cá nhân có được từ tham nhũng rồi. Nếu đánh thuế bổ sung vào các tài sản chỉ với lý do là cán bộ kê khai không trung thực hay không giải trình được nguồn gốc thì cơ sở pháp lý cho việc kết luận có tham nhũng cũng không chắc chắn. Bởi trong nền kinh tế đang chuyển đổi, mới nổi và chưa chuyên nghiệp như Việt Nam, việc đặt ra trách nhiệm chung về kê khai và giải trình nguồn gốc tài sản đối với bất cứ cá nhân nào cũng là phi thực tế, so với yêu cầu tương tự ở các nước. Cũng lưu ý thêm rằng biện pháp kê khai tài sản trong Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành thực chất chỉ nhằm đạt mục tiêu kiểm soát và giáo dục về đạo đức cán bộ trong nội bộ các cơ quan, tổ chức mà hoàn toàn không có tính chất hay hiệu lực của một chế tài pháp lý.

Dư luận vừa qua còn e ngại việc đánh thuế lên tài sản “bất minh” sẽ là con đường hợp pháp hóa tài sản tham nhũng. Tuy nhiên, điều này không có cơ sở bởi đánh thuế và hợp pháp hóa thu nhập và tài sản về nguyên lý là hai lĩnh vực khác nhau, ít nhất tùy thuộc vào chủng loại thu nhập, tài sản và quy định riêng của các văn bản luật. Chẳng hạn, cho tới nay, thuế đất vẫn được đánh trên mọi mảnh đất có người sử dụng, tuy nhiên các biên lai nộp thuế chưa bao giờ được coi là bằng chứng của quyền sử dụng đất hợp pháp cả; hay việc tặng cho tài sản sẽ bị áp thuế thu nhập nhưng không đồng nghĩa với việc loại trừ khả năng bị điều tra chống rửa tiền theo quy định của luật.

Tóm lại, đánh thuế và đánh thuế thật cao đối với tài sản bất minh có thể mang ý nghĩa thu hồi cho ngân sách, tuy nhiên bởi thiếu các cơ sở pháp lý rõ ràng nên sẽ khó khả thi để thực hiện. 

Liệu có thể đơn giản áp dụng biện pháp tịch thu tài sản theo Luật Phòng, chống tham nhũng?

Cần làm rõ khả năng áp dụng biện pháp tịch thu tài sản trong bối cảnh thực tế nào. Trong bối cảnh thứ nhất, đó là tài sản thuộc sở hữu của cán bộ nhà nước và có nguồn gốc hợp pháp nhưng không được kê khai. Trong trường hợp đó, cán bộ có liên quan có thể bị xử lý do thiếu trung thực nhưng chắc chắn không thể bị tịch thu tài sản. Trong bối cảnh thứ hai, tài sản được phát hiện qua tự kê khai của cán bộ hay xác minh của cơ quan, tổ chức là “bất minh” theo nghĩa không có nguồn gốc rõ ràng hay không hợp pháp. Trong trường hợp này, khả năng xử lý đối với tài sản là có thể, tuy nhiên cần phải có quy định và trình tự pháp luật, bởi vấn đề không chỉ là tịch thu tài sản mà còn là nguy cơ lạm dụng tịch thu tài sản để qua đó xâm phạm quyền cơ bản về sở hữu của công dân.

Cơ sở pháp luật luôn luôn phải rành mạch trong tương tác với người và tài sản. Theo đó, một người có hành vi sai trái thì chỉ bị xử lý về hành vi đó mà không phải về tài sản đó trừ khi chính tài sản là tang vật của vi phạm; ngược lại, một người ngay thẳng và ngay tình mà có trong tay tài sản bất hợp pháp thì tài sản đó vẫn bị xử lý theo cách riêng biệt. Tuân theo nguyên lý này, vấn đề tịch thu tài sản của cán bộ nhà nước như thảo luận vừa qua sẽ không đơn giản, do đó, cần có sự phân định cụ thể.

Chẳng hạn, đối với tài sản không giải trình được nguồn gốc, điều này đương nhiên tạo tiền đề cho sự nghi vấn về tham nhũng của cán bộ. Do đó, quá trình xác minh và điều tra của cơ quan chức năng có thể bắt đầu, mà việc làm rõ nguồn gốc sẽ là kết quả được trông đợi sau đó cho quá trình xử lý tiếp theo.

Đối với tài sản đã được xác định rõ về tính bất hợp pháp, các luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính và tố tụng hình sự sẽ đương nhiên được áp dụng để giải quyết toàn diện, bao gồm cả tịch thu tài sản vi phạm và xử lý mối liên quan của người sở hữu hay sử dụng. Trên thực tế, các vụ án hình sự về tham nhũng vừa qua đã được tiến hành cho mục đích này. Tuy nhiên, một vấn đề lớn được đặt ra và dư luận quan tâm, thậm chí bức xúc, là “liệu có phải rằng các cá nhân bị kết án tham nhũng chỉ liên quan đến các tài sản là tang vật có giá trị “khá khiêm tốn” như các cáo trạng và bản án đã tuyên?”. Câu hỏi này thực chất là một điểm mấu chốt cho việc xem xét để hoàn thiện khuôn khổ pháp luật phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Khuôn khổ pháp luật phòng, chống tham nhũng cần được hoàn thiện theo hướng nào ?

Có thể nhận xét không quá rằng Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành chỉ là các quy tắc về đạo đức công vụ hơn là các chế định và chế tài pháp lý. Về cơ bản, nó không có sự phân định rành mạch và thỏa đáng giữa hai phạm trù đạo đức và pháp luật, cũng như giữa quy chế nội bộ và chế định hay quy trình pháp luật. Tăng cường đạo đức công vụ là quan trọng nhưng bản thân nó sẽ không còn ý nghĩa và tác dụng thực tế một khi nạn tham nhũng đã lan tràn khắp các lĩnh vực và bộ phận của cơ quan nhà nước. Sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng, do đó, cần xử lý và khắc phục được các điểm yếu cơ bản này. Tuy nhiên, việc sửa đổi đó chỉ có thể đạt đến độ ngang tầm với quyết tâm chính trị mới của Đảng trong phòng, chống tham nhũng nếu đặt ra và giải quyết được hai nhiệm vụ trọng tâm như sau:

Một là, Luật Phòng, chống tham nhũng cần xác định mục tiêu xây dựng các quy trình và thủ tục điều tra tham nhũng. Kinh nghiệm ở các nước thành công trong phòng, chống tham nhũng đã chỉ ra rằng điều tra tham nhũng là một hoạt động độc lập, đòi hỏi thẩm quyền và thủ tục đặc biệt, các kỹ năng nghiệp vụ riêng và tính chuyên nghiệp cao, khác với điều tra hình sự thông thường. Về chức năng, điều tra tham nhũng là các quy trình và thủ tục hành chính, tương tự như điều tra về hành vi hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh, được tiến hành khi có các dấu hiệu của tham nhũng mà kết quả của nó sẽ được chuyển giao cho cơ quan chức năng khác để xử lý hành chính hay cơ quan tư pháp để khởi tố hình sự. Chẳng hạn, nếu một cán bộ nhà nước đã che giấu các tài sản bất minh khi kê khai theo quy định, quy trình điều tra tham nhũng có thể được tiến hành với các kết luận đạt được thường có nội dung bao quát rộng và sát thực bản chất vụ việc hơn so với điều tra hình sự.

Hai là, thay vì đặt sứ mệnh phòng, chống tham nhũng vào chính các cơ quan, tổ chức vốn có điều kiện vật chất và nguy cơ tiềm tàng về tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng cần thiết lập một cơ quan độc lập và chuyên trách về chống tham nhũng. Cơ quan này có quyền lực cao và bộ máy chuyên nghiệp với nhân sự trong sạch được tín nhiệm để có thể không tham nhũng cũng như thực hiện các thủ tục điều tra tham nhũng mà không bị cản trở. Theo thực tiễn của nhiều nước, cơ quan chuyên trách chống tham nhũng đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của người đứng đầu hệ thống chính trị hoặc Quốc hội. 

Hy vọng rằng các thảo luận về các biện pháp xử lý tài sản tham nhũng vừa qua sẽ là khởi đầu cho quá trình xem xét toàn diện và triệt để hơn nhằm hoàn thiện thiết chế phòng, chống tham nhũng ở nước ta.

Luật sư Nguyễn Tiến Lập/TBKTSG



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng