Nghịch lý về tài chính giáo dục

Vì sao chỉ số phát triển giáo dục Việt Nam năm 2017 chỉ đạt 0,626(1), trong khi chỉ số phát triển con người (HDI) cùng năm lại đạt cao hơn với 0,694? Nguyên nhân gì dẫn đến sự tụt hậu bất thường đó trong khi ở Việt Nam giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu?

Công bằng là một khái niệm khá phức tạp và còn gây nhiều tranh cãi. Chẳng hạn, quan niệm khá phổ biến cho rằng không thể cùng một lúc đạt được mục tiêu công bằng mà không hy sinh hiệu quả và do vậy phải chấp nhận đánh đổi giữa hai mục tiêu đó.

Về chính sách, miền ngược được nhiều hơn miền xuôi

Có thể nói, về mặt chính sách, tài chính giáo dục Việt Nam không bị bỏ quá xa so với các nước có nền giáo dục phát triển. Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách tài chính giáo dục nhằm cải thiện công bằng trong tiếp cận cơ hội học tập của công dân.

Công bằng đã trở thành một trong những nguyên tắc chủ yếu trong quản lý ngân sách nhà nước(2). Chẳng hạn, để thực hiện chính sách công bằng trong giáo dục nói riêng và các dịch vụ xã hội cơ bản nói chung, Việt Nam áp dụng định mức hay “công thức” phân bổ dự toán ngân sách chi thường xuyên gồm hai bộ phận; định mức theo tiêu chí cơ bản (dân số) và định mức theo tiêu chí bổ sung nhằm cải thiện tính công bằng trong giáo dục.

Cụ thể, theo tiêu chí cơ bản, định mức giáo dục cho người dân (trong độ tuổi đi học từ 1-18 tuổi) sống ở các vùng khó khăn được bố trí cao hơn rõ rệt so với vùng đô thị và đồng bằng.

Chẳng hạn, định mức dự toán cho sự nghiệp giáo dục ở thời kỳ ổn định ngân sách 2017-2020 của vùng cao - hải đảo là 5.054.400 đồng/người dân/năm, cao gấp 2,35 lần so với vùng đô thị; cho vùng miền núi - vùng đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùng sâu là 3.538.100 đồng/người dân/năm, cao gấp 1,65 lần so với vùng đô thị.

Ngoài ra, còn có các tiêu chí bổ sung cho các đối tượng đặc thù, có hoàn cảnh khó khăn để giúp họ tiếp cận dễ hơn các cơ hội giáo dục, ví dụ: (1) Chính sách về tiền ăn trưa cho trẻ em mầm non; (2) Chính sách giáo dục đối với người khuyết tật; (3) Chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông (THPT) ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; (4) Chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với sinh viên là người dân tộc thiểu số học tại các cơ sở giáo dục đại học; (5) Chính sách hỗ trợ kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên...

Nhưng thực chi thì miền xuôi lại được nhiều hơn miền ngược

Quá trình thực hiện chính sách tài chính giáo dục thời gian qua cho thấy nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu công bằng, thậm chí có phần trái ngược với những gì đặt ra trong chính sách.

Trước hết, đó là thực chi ngân sách bình quân cho một học sinh ở các vùng có điều kiện khó khăn thấp hơn vùng có điều kiện tốt hơn, như đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ, trong khi theo chính sách thì lẽ ra phải cao hơn.

Tất cả các vùng (trừ Tây Nguyên), mức thực chi ngân sách nhà nước trên một học sinh ở tất cả các cấp đều thấp hơn vùng đồng bằng sông Hồng, thậm chí có nơi chỉ bằng một nửa như vùng trung du và miền núi phía Bắc ở khối mầm non (xem bảng 1).

Tiếp đến, gánh nặng tài chính giáo dục lên hộ gia đình (HGĐ) quá lớn dẫn đến có thể thu hẹp cơ hội học tập của con em các HGĐ nghèo, đi ngược với mong đợi của nhân dân và các đại biểu Quốc hội.

Bảng 2 cho thấy tỷ lệ chi từ nguồn đóng góp của HGĐ (gọi là chi tư) trong tổng chi cho giáo dục năm 2012 đối với giáo dục đầu đời và THPT là quá lớn, tương ứng là 22,5 và 34,4%.

Thêm nữa, học sinh các HGĐ nghèo có kết quả học tập thấp hơn rõ rệt so với học sinh các HGĐ khá giả hơn.

Giải pháp cải thiện tính công bằng trong giáo dục

 Học sinh dự khai giảng tại TPHCM. Ảnh minh họa Thành Hoa

Các giải pháp dưới đây có thể làm dần từng bước trong và sau khi sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Ngân sách nhà nước năm 2015.

Thứ nhất, thay tiêu chí phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho giáo dục từ “dân số trong độ tuổi đến trường 1-18 tuổi” bằng “số tuyển sinh thực tế ở mỗi niên khóa”. Làm như vậy mới có thể đảm bảo phân bổ chính xác ngân sách cho học sinh thực tế nhập học thay vì dựa vào dân số “ảo” (hộ khẩu một nơi, nhập học nơi khác).

Thứ hai, hoàn thiện căn cứ phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho giáo dục trong Quyết định 46/2016, cụ thể: sửa đổi cách phân vùng địa lý và trợ cấp để đảm bảo tỷ lệ chi cho lương (và các khoản có tính chất tiền lương) và chi cho dạy và học (gọi tắt là tỷ lệ 82/18).

Quyết định 46/2016 chia định mức phân bổ ngân sách theo bốn vùng (đô thị; đồng bằng; miền núi - vùng đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùng sâu; vùng cao, hải đảo). Trong Hội nghị tập huấn về tài chính giáo dục cho đại biểu dân cử tổ chức tại Buôn Ma Thuột tháng 4-2019, một số đại biểu cho rằng phân làm bốn vùng như trên là không công bằng mà cần phải chia ra nhiều vùng hơn mới phản ánh được đặc thù vùng, miền.

Bên cạnh đó, cần điều tiết bổ sung ngân sách cho các địa phương khó khăn để bảo đảm tỷ lệ chi 82%/18% trong suốt thời kỳ ổn định ngân sách, không chỉ riêng cho năm đầu của thời kỳ đó. Trong quyết định của Thủ tướng cho thời kỳ ổn định ngân sách 2021-2025 cần khắc phục bất cập trong Quyết định 46/2016, trong đó quy định nhà nước chỉ bảo đảm cấp bù ngân sách cho các địa phương còn khó khăn nhằm đảm bảo tỷ lệ 82/18 cho năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, còn các năm sau đó thì địa phương phải tự cân đối.

Thứ ba, rà soát cập nhật các thông tư hướng dẫn thực hiện các chính sách bổ sung (thực chất là các tiêu chí bổ sung) định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho giáo dục vì chúng đã lạc hậu. Các thông tư nêu trên đều được ban hành trước khi Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 có hiệu lực (1-1-2017), chủ yếu trong giai đoạn 2011-2013. Trong thời gian nói trên, giá cả liên tục tăng, lương cũng đã tăng một số lần nhưng trị số tuyệt đối của các định mức bổ sung nêu trên vẫn giữ nguyên là không phù hợp.

Thứ tư, xem xét quy định chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo chiếm tỷ lệ cứng là 20% trong tổng chi ngân sách của địa phương và có quy định cụ thể trong Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (khi sửa đổi) để cân đối ngân sách cho địa phương khó khăn nhằm đảm bảo công bằng cho học sinh ở địa phương về cơ hội tiếp cận giáo dục.

Hiện tại Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thực hiện yêu cầu địa phương ghi rõ dự toán bố trí cho hai lĩnh vực là giáo dục - đào tạo và môi trường nhưng không quy định tỷ lệ cứng nên các địa phương khó khăn không thể đảm bảo được vì không có nguồn. 

TS. Trịnh Tiến Dũng (*)/TBKTSG

(*) Nguyên trợ lý giám đốc quốc gia kiêm Trưởng ban Quản trị quốc gia UNDP Việt Nam

(1) Nếu trừ yếu tố bất bình đẳng trong giáo dục thì chỉ số phát triển giáo dục bị giảm 17,6%, chỉ còn 0,515. Nguồn: UNDP Human Development Data 1990-2017 http://hdr.undp.org/sites/default/files/2018_summary_human_development_statistical_update_en.pdf

(2) Khoản 1, điều 8, Luật NSNN 2015



Vusta

 Vifotec

Logo Hoi thi STKT - web

Logo Cuoc thi 2017-web

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng